SUY NGHĨ VỀ HỌC THUYẾT PHÁP LÝ VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY


Tác giả: TRẦN THÁI DƯƠNG*
TS. Đại học Luật Hà Nội 
Tạp chí Khoa học pháp lý, Số 1/2006, 
truy cập tại đây 

Là hệ thống các quan điểm lí luận khoa học hoàn chỉnh về những vấn đề nhà nước và pháp luật, học thuyết pháp lí biểu hiện ở cấp độ cao của ý thức pháp luật, tức là những ý niệm của con người về hệ thống các thể chế và thiết chế nhà nước.
Về mặt cấu trúc, học thuyết pháp lí gồm các khái niệm, phạm trù, quy luật vận động khách quan, những mối liên hệ phổ biến về các hiện tượng nhà nước và pháp luật. Học thuyết pháp lí có thể luận giải về nhà nước và pháp luật đã qua, nhà nước và pháp luật đang tồn tại hay chủ trương, kiến giải về mô hình nhà nước và pháp luật trong tương lai.

Tùy theo mỗi cách phân chia với mục tiêu nhất định, học thuyết pháp lí có các loại khác nhau. Ở mức độ khái quát, qua tiến trình lịch sử phát triển của các chế độ xã hội có giai cấp, có nhà nước và pháp luật, khi khoa học hình thành, các quan điểm của các nhà triết học về đời sống chính trị, về nhà nước và pháp luật đã xuất hiện. Đến khi các quan điểm, tư tưởng đó chín muồi thì hình thành nên các học thuyết chính trị - pháp lí. Sau này, với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của khoa học, luật học (khoa học pháp lí) đã tách thành ngành khoa học độc lập, học thuyết pháp lí giữ vai trò trung tâm, quyết định sự tồn tại và phát triển của luật học với tư cách là ngành khoa học trong hệ thống các khoa học xã hội và nhân văn. Bên cạnh các học thuyết chính trị - pháp lí, về nhà nước và pháp luật nói chung, lúc này những học thuyết về các vấn đề cụ thể như tổ chức bộ máy nhà nước về điều chỉnh pháp luật, các mô hình pháp luật đã được hình thành và phát triển.

Sự phân chia các học thuyết pháp lí thành các học thuyết chung gắn liền với các vấn đề chính trị và các học thuyết về từng lĩnh vực pháp luật chỉ có tính tương đối vì giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ hữu cơ không thể tách rời. Trên thực tế, chính trị và pháp luật là những hình thái ý thức xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng; chính trị là linh hồn của pháp luật, không có pháp luật nào phi chính trị hay chỉ là những vấn đề chuyên môn kĩ thuật thuần tuý. Ngược lại không có nền chính trị hay xu hướng chính trị nào lại không hướng tới vấn đề chính quyền và luật pháp. Nói như vậy cũng để thấy rằng các học thuyết pháp lí không đơn thuần là những lí thuyết về kĩ thuật pháp luật mà chúng luôn luôn thể hiện những vấn đề lợi ích giai cấp; thể hiện lập trường, thế giới quan và nhân sinh quan chính trị sâu sắc.

Học thuyết pháp lí với ý nghĩa là hệ thống các quan điểm, các phạm trù, khái niệm, các nguyên tắc, các quy luật và mối liên hệ có tính phổ biến giữa các hiện tượng nhà nước và pháp luật chỉ được hình thành và phát triển trên cơ sở hoạt động có tính đặc thù là hoạt động nhận thức tư duy khoa học. Hoạt động thực tiễn về nhà nước và pháp luật đã có từ trước đó, các quan điểm nhận thức có tính đơn lẻ về nhà nước và pháp luật cũng đã xuất hiện nhưng chỉ đến khi hoạt động tư duy lí luận có tính chuyên nghiệp xuất hiện thì mới xuất hiện các học thuyết khoa học nói chung và học thuyết pháp lí nói riêng.

Từ thời Cổ đại, trên thế giới đã hình thành những học thuyết chính trị - pháp lí nổi tiếng, xuất hiện những trường phái khoa học khác nhau về cùng vấn đề của hiện thực khách quan trong xã hội, đó là nhà nước và pháp luật. Những học thuyết nổi tiếng mà cho đến nay người ta vẫn còn suy ngẫm và kiểm nghiệm như thuyết pháp trị và thuyết đức trị ở Trung Quốc thời cổ.

Nhìn chung, các học thuyết pháp lí Cổ đại đã có nhiều đóng góp quan trọng, đặt nền móng cho sự tiếp tục phát triển của luật học thế giới sau này. Có những tư tưởng, quan điểm của các học giả thời đó đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Vượt qua đêm trường Trung cổ, chuẩn bị cho cuộc cách mạng dân chủ tư sản lật đổ chế độ phong kiến thiết lập kiểu nhà nước tư sản, nhiều học thuyết chính trị - pháp lí ra đời với những nội dung rất phong phú đã mang lại cho nền luật học thế giới những bước tiến vượt bậc. Chẳng hạn: thuyết pháp quyền tự nhiên, thuyết khế ước xã hội, thuyết phân quyền...

Trên cơ sở tổng kết những thành tựu khoa học của thế giới, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã đưa ra học thưyết khoa học, cách mạng nhất về nhà nước và pháp luật. Học thuyết Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật đem lại một cách nhìn toàn diện, khách quan, biện chứng và duy vật về những vấn đề chung như nguồn gốc, bản chất, vai trò, chức năng của các kiểu nhà nước trong lịch sử và đặc biệt là đối với nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa - kiểu nhà nước và pháp luật tiến bộ nhất và là cuối cùng trong lịch sử loài người. Học thuyết Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật là cơ sở phương pháp luận cho việc hình thành các học thuyết pháp lí xã hội chủ nghĩa.

Trên cơ sở học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối chính trị của Đảng cộng sản Việt Nam, các học thuyết pháp lí ở nước ta cũng được hình thành. So với các lĩnh vực khoa học khác, luật học là một ngành khoa học còn rất non trẻ đối với Việt Nam. Ngoại trừ một số ít các nhà luật học được đào tạo dưới chế độ thực dân Pháp, đa số các nhà khoa học pháp lí nước ta được đào tạo ở Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa khác như Cộng hoà dân chủ Đức, Ba Lan... Bước vào thời kì đổi mới với chính sách đối ngoại đa phương hoá, đa dạng hoá, nước ta đã cử hàng loạt sinh viên và nghiên cứu sinh đi đào tạo nghiên cứu, học tập ở nhiều nước trên thế giới về các lĩnh vực khoa học, trong đó có lĩnh vực luật học. Đến nay, đội ngũ các nhà khoa học pháp lí của Việt Nam tương đối đa dạng và đang trưởng thành nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền, xây dựng nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Nhìn chung nền khoa học pháp lí Việt Nam trong mấy chục năm qua có đặc điểm nổi bật nhất là chịu ảnh hưởng sâu sắc của khoa học pháp lí nước ngoài: Trước đó thì chịu ảnh hưởng của hệ thống khoa học pháp lí Pháp và châu Âu lục địa, về sau chịu ảnh hưởng của hệ thống khoa học pháp lí Liên Xô. Xu hướng hiện nay của khoa học pháp lí Việt Nam là vận dụng học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, tiếp thu các giá trị chung của nền văn minh nhân loại đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam.

Học thuyết pháp lí không phải là các quan điểm, tư tưởng đơn lẻ hay các chủ trương, chính sách của lực lượng cầm quyền về nhà nước và pháp luật, nó chỉ được hình thành trên cơ sở hoạt động tư duy lí luận một cách có hệ thống do các nhà khoa học thực hiện. Nói cách khác, học thuyết pháp lí là sản phẩm của quá trình nhận thức khoa học sáng tạo về hiện thực xã hội, nó không phải đơn thuần là sản phẩm của ý chí hay lòng mong muốn. Do vậy, không có hoạt động khoa học một cách tự do, dân chủ thì cũng không có sự tồn tại của các học thuyết pháp lí.

Học thuyết pháp lí không phải là sản phẩm chỉ có ý nghĩa kinh viện, nó có ảnh hưởng rất lớn đến thực tiễn nhà nước và pháp luật. Giới quyền lực bao giờ cũng chịu ảnh hưởng của những quan niệm học thuyết pháp lí nhất định và từ đó hình thành trước những ý niệm về một nhà nước và hệ thống pháp luật cần phải có. Thực tế cũng đã chứng minh rằng không có hệ thống pháp luật nước nào có thể đầy đủ hoàn toàn để điều chỉnh mọi quan hệ xã hội cần được điều chỉnh. Học thuyết pháp lí không chỉ ảnh hưởng đến việc hình thành một hệ thống pháp luật cụ thể về cơ cấu, về mục đích, nguyên tắc, phương thức điều chỉnh... mà còn đem lại những hiểu biết chung, những quan niệm về các giá trị của công bằng, dân chủ, tiến bộ... từ đó mà ảnh hưởng đến các quyết định lập pháp, những phán quyết của cơ quan nhà nước trong quá trình áp dụng pháp luật.

Học thuyết pháp lí cũng có vai trò to lớn đối với công tác giáo dục nâng cao ý thức pháp luật trong các tầng lớp nhân dân. Các vấn đề nhà nước và pháp luật được trình bày dưới dạng hệ thống tri thức khoa học có tính thuyết phục cao, qua đó thấm sâu vào suy nghĩ, biến thành nếp tư duy và hành động của người dân.

Với vai trò và giá trị như vậy, học thuyết pháp lí không chỉ có ý nghĩa học thuật, nó còn góp phần bổ sung và hỗ trợ tích cực cho hệ thống các quy phạm pháp luật. Ngày nay, nếu quan niệm đầy đủ và thực tế về nguồn luật thì cần phải thừa nhận vai trò không nhỏ của các học thuyết pháp lí.

Ở Việt Nam, từ trước, chúng ta không thừa nhận học thuyết pháp lí có giá trị bổ sung trực tiếp cho hệ thống các quy định pháp luật thực định, thường chúng chỉ được sử dụng có tính chất tham khảo trong giảng dạy, nghiên cứu ở các trường đại học, viện khoa học và nhiều khi mang tính kinh viện, ít được coi trọng đúng mức. Tuy nhiên, trên thực tế ở Việt Nam, học thuyết pháp lí có ảnh hưởng một cách gián tiếp theo cả hai chiều (tích cực và tiêu cực) đến quá trình hình thành, phát triển của hệ thống pháp luật và hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước (cũng trên cơ sở các quy định của pháp luật). Chẳng hạn, do ảnh hưởng của nhận thức cứng nhắc đối với quan điểm học thuyết về bản chất, phương thức tổ chức bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa theo kiểu “nửa nhà nước”, trong thời kì kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, hệ thống các cơ quan nhà nước đã được tổ chức triển khai sâu rộng đến nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, thậm chí bao trùm và che lấp hầu hết các thiết chế của đời sống xã hội dân sự.

Trong tổ chức quản lí nền kinh tế trước đây, với ảnh hưởng của thuyết “quản lí theo chức năng” (tức là nền kinh tế càng được phân chia thành nhiều ngành thì số cơ quan nhà nước cũng phải phình to ra, nếu không thì quản lí không xuể),[1] bộ máy nhà nước cũng được tổ chức một cách cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian. Đối với hệ thống pháp luật, do ảnh hưởng của quan điểm học thuyết pháp lí của các nước xã hội chủ nghĩa nên hệ thống pháp luật Việt Nam cũng mang những điểm riêng. Chẳng hạn, sự không tồn tại của Luật Lao động với tư cách là ngành luật độc lập (thực chất là một bộ phận trong ngành luật hành chính) do không tồn tại các quan hệ trao đổi hàng hóa sức lao động.

Học thuyết pháp lí có vai trò tích cực trong định hướng hành động khi áp dụng pháp luật, chẳng hạn lí thuyết về cấu thành tội phạm có ý nghĩa thực tiễn rất to lớn đối với các cơ quan tư pháp nước ta, nhất là trong thời kì nước ta chưa có Bộ luật Hình sự.

Nhũng thời đại kinh tế đã qua cũng chấm dứt vai trò của một số loại học thuyết pháp lí nhất định. Chẳng hạn, học thuyết của Laptev ở Liên Xô trước đây về mô hình ngành luật kinh tế điều chỉnh các quan hệ kinh tế kế hoạch hóa, về hợp đồng kinh tế, về quyền quản lí nghiệp vụ của các xí nghiệp, về hạch toán kinh tế trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung ở nước ta... Những học thuyết về vai trò, chức năng kinh tế của nhà nước xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế kế hoạch hóa, trong đó biến nhà nước trở thành kiểu nhà nước “toàn trị”[2] như thuyết “về tính cần thiết”, “thuyết phân công chức năng”.[3]

Chuyển sang nền kinh tế thị trường, chúng ta phải chuyển đổi tổ chức bộ máy, phương thức hoạt động của nhà nước và xây dựng hệ thống pháp luật với những nội dung và vai trò khác so với thời kì kế hoạch hóa tập trung bao cấp. Hoạt động xây dựng nhà nước và hệ thống pháp luật ở nước ta hiện nay cần dựa trên những quan niệm mới theo hướng hội nhập quốc tế. Nền học lí pháp luật Việt Nam hiện nay cần phải được hình thành, thậm chí phải đi trước một bước để định hướng về lí luận khoa học cho việc triển khai các quan điểm đường lối chính trị của Đảng. Có thể nói, đây là điểm yếu cần phải khắc phục của khoa học pháp lí Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, có thể nói rằng trong quá trình hội nhập quốc tế, chúng ta cũng cần tránh xu hướng du nhập một cách rập khuôn máy móc các học lí pháp luật nước ngoài vì điều đó không phải lúc nào cũng đem lại sự tương thích với điều kiện kinh tế - xã hội và truyền thống văn hoá Việt Nam. Việc tiếp thu và giao thoa giữa các nền văn hóa trên thế giới là điều khách quan nhưng nền học lí pháp luật Việt Nam ngày nay vẫn cần phải căn bản dựa trên nền tảng truyền thống dân tộc Việt. Mặc dù vậy, cần phải chú ý một thực tế lịch sử rằng Việt Nam không phải là cái nôi sản sinh hay khởi phát ra các học thuyết nói chung mà chỉ tiếp thu, chọn lọc và phát triển nó trong quá trình ứng dụng cho phù hợp với hoàn cảnh của đất nước và con người Việt Nam. Theo tôi, làm tốt được điều đó cũng đã có tác dụng to lớn và rất đáng tự hào rồi. 

[1] Trương Văn Bân (chủ biên), Bàn về cải cách toàn diện doanh nghiệp nhà nước, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; tr. 457.

2 PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa, Từ nhà nước toàn trị tới thời đại dân doanh , Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 8/2005; tr. 3.

3 Trương Văn Bân (chủ biên), Sđd; tr. 457.

17:27 | Posted in , | Read More »

YẾU TỐ TÂM LÝ PHÁP LUẬT TRONG QUÁ TRÌNH NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Thay đổi trạng thái tâm lý -
Ảnh: www.usao.edu
Tác giả: NGUYỄN MINH ĐOAN 
PGS.TS, Giảng viên ĐH Luật Hà Nội
Nguồn: TẠP CHÍ KHPL SỐ 4/2004, 
truy cập tại đây
I. Ý thức pháp luật được xem là điều kiện quan trọng, là tiền đề tư tưởng trực tiếp cho việc xây dựng, phát triển và hoàn thiện hệ thống pháp luật; là cơ sở hình thành văn hoá pháp lý của các chủ thể pháp luật, tạo cho chủ thể có khả năng và kỹ năng sử dụng có hiệu quả cơ chế điều chỉnh pháp luật để bảo vệ lợi ích cho bản thân mình, cho nhà nước và cho xã hội, xử sự đúng đắn, phù hợp trong các mối quan hệ xã hội.

Ý thức pháp luật được tạo nên bởi hệ tư tưởng pháp luật (nhận thức pháp lý) và tâm lý pháp luật. Nếu hệ tư tưởng pháp luật là kết quả của sự phản ánh tự giác, có mục đích, có tính tổ chức cao của các họat động tư duy lý luận, thì tâm lý pháp luật chỉ là sự phản ánh những tâm trạng, cảm xúc, thái độ, tình cảm của con người với pháp luật và quá trình điều chỉnh pháp luật, tinh thần và hành vi thực hiện pháp luật một cách tự phát nhiều hơn. Tâm lý pháp luật bị chi phối bởi hệ tư tưởng pháp luật, nó phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm và trình độ nhận thức lý luận của cá nhân. Và ngược lại, tâm lý pháp luật là tiền đề thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển các tư tưởng, quan điểm pháp luật phù hợp.

Tâm lý pháp luật chứa đựng trong nó những rung động về tâm hồn của con người đối với những hành vi được điều chỉnh bằng những tiêu chuẩn pháp lý như: niềm tin, sự trân trọng, định kiến, thù ghét, ác cảm.... Tâm lý pháp luật có ảnh hưởng rất lớn tới việc thực hiện hành vi pháp luật hợp pháp của chủ thể và góp phần nâng cao phẩm giá, nhân cách con người, từ đó hình thành trách nhiệm của mỗi người với bản thân, với gia đình, lớn hơn nữa là với quê hương, nhân loại.

II. Mặc dù có vai trò quan trọng như vậy nhưng yếu tố tâm lý pháp luật ở nước ta chưa được quan tâm đúng mức. Việc củng cố nâng cao ý thức pháp luật thời gian qua chúng ta mới chỉ chủ yếu tập trung vào xây dựng hệ tư tưởng pháp luật nhiều hơn mà ít chú ý tới việc củng cố, định hướng để hình thành những thái độ, tình cảm pháp luật đúng đắn, phù hợp trong cán bộ và nhân dân. Do vậy, có thể nói hiện nay ý thức pháp luật ở nước ta đã được nâng cao một bước, nhưng tâm lý pháp luật trong cán bộ và nhân dân thì diễn biến còn khá phức tạp.

Tâm lý pháp luật là một hiện tượng tương đối bền vững, nó hình thành và biến đổi chậm chạp cùng với những truyền thống, thói quen của con người. Tính chất của nền kinh tế đất nước ta hiện nay cho thấy, phần đông dân cư ở nước ta đã và đang gắn bó với nền sản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu, manh mún, phân tán, với những tập tục phức tạp, rườm rà, do vậy ý thức pháp luật của nhiều người dân còn thấp, một bộ phận dân cư chưa có thói quen sống và làm việc theo pháp luật, thậm chí có một số người còn xem pháp luật như là một sự trói buộc, thường tìm cách trốn tránh, bất tuân pháp luật. Nếu nhìn lại lịch sử chúng ta thấy thái độ bất tuân pháp luật đã hình thành và phát triển từ rất lâu trong xã hội thực dân phong kiến. Khi đó pháp luật chủ yếu thể hiện ý chí và mang lại lợi ích cho thực dân, phong kiến, khi mà giữa nhà nước và nhân dân lao động luôn có sự đối lập nhau, thì người dân lao động luôn tìm mọi cách để trốn tránh pháp luật, không tuân theo pháp luật. Khi đó những tập tục của cộng đồng làng, bản..., nơi những người dân phải co cụm lại vì lợi ích cục bộ của cộng đồng và bản thân đôi khi còn quan trọng, được tôn trọng và thực hiện nghiêm hơn cả pháp luật của nhà nước thực dân phong kiến (phép vua, thua lệ làng).

Trong xã hội ta nhà nước là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân còn “pháp luật là thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân...”1 nên cả nhà nước và nhân dân cùng quan tâm tới việc thực hiện pháp luật nghiêm minh. Tuy nhiên, do tính chất bền vững của tâm lý pháp luật mà thái độ bất tuân pháp luật đã trở thành thói quen, đã ăn sâu, bám rễ trong ý thức của nhiều người; do vậy, trong họ luôn tiềm ẩn khuynh hướng tìm mọi cách để lẩn tránh luật pháp, tìm cách “lách luật”, tìm ra những kẽ hở, những khiếm khuyết, hạn chế của pháp luật để hễ có cơ hội thì vụ lợi. Chẳng hạn, khi nhà nước đưa ra quy định về hoàn thuế giá trị gia tăng, thì chỉ sau một thời gian ngắn đã có rất nhiều cá nhân, tổ chức gian dối lợi dụng để chiếm đoạt bất hợp pháp tiền bạc của nhà nước; thời kỳ nhà nước nghiêm cấm mua bán đất thì người ta nghĩ ngay đến việc che giấu mua bán đất dưới hình thức như mua bán nhà ở, cây lâu năm...; khi các trạm kiểm soát của cảnh sát giao thông hoạt động mạnh thì các lái xe đã liên kết với nhau, tìm cách thông báo cho về các trạm kiểm soát của cảnh sát đặt ở đoạn đường nào để đến đó thì họ nghiêm chỉnh chấp hành luật lệ giao thông còn trước đó và sau đó thì họ tìm mọi cách vi phạm như chạy quá tốc độ, chở quá quy định... Cũng cần phải thừa nhận một thực tế là có những trường hợp chủ thể bất tuân pháp luật không nhằm mục đích vụ lợi mà chỉ nhằm để thoả mãn trạng thái tâm lý là “không ai làm gì được mình”, thậm chí chỉ là để “thể hiện mình” trước những người xung quanh.

Cũng do việc định hướng tình cảm pháp luật chưa tốt nên trong xã hội ta tâm lý ác cảm với cảnh sát, với người đại diện chính quyền vẫn còn tồn tại. Thậm chí có trường hợp khi cảnh sát xử lý hành vi vi phạm pháp luật của cá nhân nào đó thì một số cá nhân khác lại ủng hộ, bênh vực, giúp đỡ kẻ vi phạm, tạo điều kiện cho kẻ vi phạm trốn tránh khỏi sự trừng phạt của pháp luật. Những kẻ ủng hộ này thường là đồng bọn của kẻ vi phạm hoặc là những kẻ xưa nay vẫn vi phạm pháp luật nhưng không bị phát hiện hoặc không bị xử lý. Một số người dân tuy không ủng hộ việc làm sai trái đó nhưng lại thờ ơ, không ủng hộ việc làm đúng của cảnh sát, không ủng hộ cái đúng và như vậy, vô hình trung họ đã tạo điều kiện để cái sai, cái xấu vẫn tồn tại và hoành hành trong xã hội. Nhưng khi cái xấu có liên quan đến họ thì họ lại ra sức trách móc, trông chờ sự giúp đỡ người khác đặc biệt là của cảnh sát hoặc chính quyền. Việc tác động để hình thành những tình cảm, xúc động đúng đắn đối với pháp luật, đối với hành vi của những người thừa hành pháp luật có ý nghĩa rất lớn trong phòng ngừa những hành vi không phù hợp, trái với chuẩn mực xã hội, chuẩn mực pháp luật trong xã hội.

Trong nhiều hoạt động nhà nước ở nước ta vẫn còn biểu hiện của tâm lý cửa quyền, muốn được cầu cạnh, ban phát theo kiểu “con không khóc thì mẹ không cho bú” và đứa con nào khóc to, biết cách khóc, khóc hay thì sẽ được bú nhiều. Chính thói quen tâm lý này đã góp phần tạo ra trong xã hội ta cơ chế “xin - cho”, mọi thứ đều phải “xin” thì mới được những người đại diện nhà nước “cho”. Cơ chế “xin - cho” đã làm mất đi tính chủ động phục vụ nhân dân của những người có chức vụ, quyền hạn. Rất nhiều kẻ gian tham đã lợi dụng cơ chế “xin - cho” để vụ lợi, chúng coi tài sản nhà nước như “một thứ tự nhiên mà có” xin được càng nhiều càng tốt, tìm mọi mánh khóe để cậy cục xin, ỷ lại, trông chờ vào việc xin. Kẻ được cho thì coi tài sản nhà nước như là của mình, mình ban ơn, mình cho ai thì người đó được hưởng. Và không chỉ dừng lại ở lĩnh vực tài sản, cơ chế “xin - cho” còn lan sang cả các lĩnh vực khác như công tác thi đua khen thưởng, công tác tổ chức cán bộ... gây ra dư luận không tốt trong nhân dân. Chính cơ chế “xin - cho” đã làm cho người có thẩm quyền áp dụng pháp luật tùy tiện mà người bị áp dụng pháp luật cũng tự do, tuỳ tiện, theo kiểu bất tuân các quy định của pháp luật. Người có thẩm quyền áp dụng pháp luật thì cho rằng đó là “quyền của mình”, mình muốn làm gì thì làm, mình cho, mình làm ơn thì người dân được hưởng, được nhờ còn mình không cho, không làm thì người dân phải cậy cục nhờ vả, van xin... hoặc là nếu là người thân quen thì xử lý khác, còn người không thân quen thì xử lý khác.... Nhiều chủ thể bị áp dụng pháp luật đã coi thường, không chấp hành quyết định áp dụng pháp luật, với tâm lý “làm gì nhau” và nếu gặp trường hợp thiếu kiên quyết, “đánh trống bỏ dùi”, thiếu triệt để của các cơ quan nhà nước thì chẳng sao cả, càng làm cho tâm lý thách thức, coi thường người đại diện chính quyền tăng lên trong xã hội.

Tâm lý tuỳ tiện tiểu nông còn thể hiện ở việc chấp hành thời gian lao động, sinh hoạt, hội họp. Trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà hầu hết các cuộc họp, hội thảo, hội nghị, ngày làm việc đã không được thực hiện đúng giờ. Để đảm bảo thời gian chính xác trong lao động nhiều cơ quan, đơn vị nhất là các đơn vị sản xuất, kinh doanh đã phải áp dụng các biện pháp thưởng phạt về vật chất rất nghiêm khắc mới có thể khắc phục được hiện tượng đi muộn, về sớm của một số người. Tuy nhiên, hiện tượng tuỳ tiện về thời gian trong các đơn vị hành chính, sự nghiệp thì hầu như chưa được khắc phục, vì tâm lý “chẳng chết ai” và “không ảnh hưởng gì ghê gớm lắm”. Hiện tượng đi muộn trong nhiều cơ quan, đơn vị lại chính là những người có chức vụ, quyền hạn, người chủ trì, chủ toạ các cuộc hội họp hoặc là những đại biểu cấp trên được mời tham dự. Hình như những người này tự coi là mình được quyền đến muộn hoặc có đến sớm thì cũng vào phòng chậm, muộn hơn những người khác. Điều đó như là để thoả mãn tâm lý là họ “quan trọng hơn người khác”, chưa có họ là chưa bắt đầu được. Đối với một số người đến muộn thậm chí còn để thể hiện sự “oai phong của mình”, nhiều trường hợp người đến muộn còn được “vỗ tay chào đón”, do vậy một số người cố ý đến muộn hoặc cố ý vào muộn chứ không phải vì những lý do nào khác.

Trong đời sống sinh hoạt và lao động nhiều khi người dân do không hiểu biết đầy đủ pháp luật dẫn đến tâm lý thiếu tự tin trong các hoạt động, làm cho hiệu quả sản xuất, kinh doanh thấp. Điều này, một mặt làm giảm khả năng của người dân trong việc tự bảo vệ quyền lợi của mình khi bị xâm hại, mặt khác có thể góp phần làm tăng khả năng khiếu kiện bừa bãi, không đủ căn cứ, không đúng thủ tục... dẫn tới bất ổn định xã hội. Tình trạng kém hiểu biết về pháp luật cũng dễ tạo nên tâm lý thờ ơ, lãnh đạm, thậm chí coi thường pháp luật, dẫn đến người dân có những hành vi xử sự không đúng với quy định của pháp luật.

Ở nước ta có thời kỳ do công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị được chú trọng hơn so với tuyên truyền, giáo dục pháp luật đã dẫn đến hiện tượng người dân Việt Nam từ nông thôn đến thành thị, từ cán bộ đến người dân bình thường luôn có sự quan tâm đến chính trị, đến tình hình thế giới nhiều hơn là quan tâm đến pháp luật của chính đất nước mình, những quy định pháp luật có ảnh hưởng trực tiếp tới quyền, lợi ích của chính mình.

Thời gian qua công việc phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua xét xử đã bước đầu được chú trọng, góp phần tạo nên niềm tin của nhân dân vào các quyết định của toà án, nhưng nếu nhìn nhận, đánh giá nghiêm túc thì công viêc này chưa được chú trọng ở tất cả các cấp tòa án và trong một toà án thì chưa được tất cả các thẩm phán, hội thẩm nhân dân quan tâm đúng mức. Khi xét xử, hội đồng xét xử mới chỉ chú ý đến việc giải quyết việc cụ thể, do ít chú ý đến mục đích giáo dục, nên nhiều trường hợp không phổ biến các quy định của pháp luật, không giải thích cặn kẽ các quy định của pháp luật, do vậy tính thuyết phục, sự giáo dục của các quyết định áp dụng pháp luật chưa cao. Ngôn ngữ sử dụng của các cơ quan bảo vệ pháp luật đối với những người dân có liên quan đôi khi còn chưa phù hợp, thậm chí mang tính miệt thị, đay nghiến hay nạt nộ, không thể hiện được thái độ tôn trọng, không đảm bảo tính công bằng, dân chủ của pháp luật, và thường là ngôn ngữ mang tính xã hội, tính gia đình (với sự phân tầng đẳng cấp, trên dưới) ít mang tính công sở, tính pháp lý… chưa đúng với văn hoá pháp lý hiện đại. Kể cả tâm lý thiếu tôn trọng của cán bộ cấp trên đối với cấp dưới, của cán bộ đối với nhân dân. Do vậy, những người có chức vụ quyền hạn trong các cơ quan nhà nước trước hết hãy tôn trọng cấp dưới, tôn trọng nhân dân tức cũng có nghĩa là tôn trọng chính mình, khi đó cũng sẽ được những người khác tôn trọng thực lòng, chứ không “bị buộc phải tôn trọng”.

Mặc dù không nói ra, nhưng thông qua những cách nghĩ, cách làm của nhiều cán bộ, công chức cho chúng ta thấy tâm lý “trừ mình ra”, “mình phải hơn người khác” hơn ở đây là về mặt lợi ích được hưởng nhiều hơn, còn về nghĩa vụ, trách nhiệm, thì chỉ phải thực hiện ít hơn hoặc không phải thực hiện, “mình được quyền như thế” đã ăn sâu bám rễ vào nhiều thế hệ cán bộ, công chức của chúng ta do ảnh hưởng của chế độ quan lại thời kỳ phong kiến trước kia và của một số vị “quan cách mạng sau này”. Vì thế, ngành nào, lĩnh vực nào cũng tự đặt ra cho mình những đặc quyền, đặc lợi mà họ cho rằng mình xứng đáng hoặc đương nhiên phải được hưởng. Điều này đã làm mất đi yếu tố tự đánh giá cá nhân là một trong những yếu tố đặc biệt quan trọng của tâm lý pháp luật, thể hiện thái độ của mỗi người đối với hành vi của mình. Do thiếu đi sự tự đánh giá cá nhân cần thiết nên trong nhiều cán bộ, công chức những cảm xúc như tự hào, buồn lo, xấu hổ... gần như cũng không có. Họ không hề thấy xấu hổ đối với những hành vi cửa quyền, nhận hối lộ, tham nhũng của mình. Đây là một hiện tượng vô cùng nguy hại cho các hoạt động của nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân.

Trong cuộc sống hiện nay người ta nói nhiều đến đạo đức của mọi ngành, mọi nghề. Song cần chú ý đến đạo đức người quản lý, lãnh đạo mà khi đương thời Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn thường căn dặn cán bộ, công chức khi đó là “ Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân, thì dân mới yêu ta, kính ta...”2. Thực tiễn ở nước ta vừa qua, việc giải quyết những khiếu nại, tố cáo của người dân, những khó khăn, vướng mắc của các doanh nghiệp là việc làm có lợi cho dân, cho nước thì lại thường bị các cơ quan, những người có trách nhiệm “hết sức tránh” bằng cách đùn đẩy trách nhiệm cho nhau thông qua việc “kính chuyển”, “kính gửi” vòng vo. Như vậy, sự xúc động, lương tâm con người của họ gần như không còn, họ im lặng, vô cảm trước những yêu cầu bức xúc của người dân hoặc của các doanh nghiệp. Có thể nói sự quan liêu, vô cảm của các cơ quan, các cán bộ, công chức nhà nước đối với đời sống nhân dân và sự phát triển của đất nước là hiện tượng còn nguy hại hơn nhiều so với những hạn chế, bất cập của cơ chế, chính sách, pháp luật của nhà nước.

Như vậy, từ những trạng thái tâm lý tưởng như rất nhỏ, vặt vãnh, ít ai để ý đến nhưng chúng lại có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả công việc của bộ máy nhà nước, đến hoạt động sản xuất, sinh hoạt của một xã hội công nghiệp, văn minh và hiện đại. Trong tiến trình đổi mới, mở cửa và hội nhập đời sống xã hội nói chung, đời sống pháp luật nói riêng ngày càng trở nên phức tạp hơn, trong xã hội đã xuất hiện rất nhiều tư tưởng, quan điểm pháp luật mới đòi hỏi những tình cảm, thái độ của con người đối với pháp luật và quá trình điều chỉnh pháp luật cũng phải có những thay đổi cho phù hợp.

Việc thay đổi những tình cảm, thái độ pháp lý không phù hợp và tạo dựng, củng cố tâm lý pháp luật đúng đắn là việc làm vô cùng khó khăn hiện nay, bởi tính chất bền vững, bám rễ của yếu tố tâm lý trong ý thức của mỗi người trong chúng ta. Nó đòi hỏi sự kiên trì, quan tâm đúng mức của đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị- xã hội và mỗi người dân trong xã hội ta vì một xã hội văn minh, hạnh phúc.

III. Để có những đổi mới tích cực trong tâm lý pháp luật ở nước ta hiện nay theo chúng tôi trước hết cần tạo ra những cơ chế, chính sách đúng đắn, kiên quyết sửa đổi hoặc loại bỏ một số cơ chế, chính sách không còn phù hợp, những chính sách dễ bị lợi dụng, dễ phát sinh ra hiện tượng tiêu cực trong xã hội. Triệt để hơn nữa trong việc xoá bỏ cơ chế “xin- cho” trong các hoạt động nhà nước, từng bước chuyển bộ máy nhà nước sang cơ chế phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội. Các cơ quan nhà nước, công chức nhà nước phải “đều là công bộc của dân,..gánh việc chung cho dân...”3

Kiên quyết loại bỏ những cán bộ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, sách nhiễu nhân dân. Cương quyết và triệt để hơn nữa trong đấu tranh, xử lý các hiện tượng tiêu cực, vi phạm pháp luật cho dù người vi phạm là bất cứ ai. Tình trạng nhân nhượng, nể nang của một số cơ quan chức năng và cán bộ, công chức nhà nước trong việc bảo vệ pháp luật, duy trì trật tự pháp luật nhất là cách giải quyết “phạt, cho tồn tại” chính là những yếu tố góp phần tạo ra tâm lý chây, ỳ, thách thức chính quyền, khinh nhờn dư luận của một số ít kẻ bất tuân pháp luật. Không có sự phát triển nào lại không phải trả giá, để có được sự tự giác chấp hành pháp luật nghiêm minh nhiều trường hợp xuất phát từ những bài học đắt giá mà chủ thể hoặc xã hội đã phải trải qua. Theo chúng tôi Đảng, Nhà nước và xã hội đã đến lúc phải chấp nhận những sự hy sinh cần thiết nhất định, kiên quyết xử lý nghiêm khắc những kẻ thoái hóa biến chất, bất kể người đó là ai để tạo ra một trật tự, kỷ cương đảm bảo cho xã hội phát triển nhanh và bền vững. Không thể chấp nhận được hiện tượng dân chủ quá trớn, lời nói và việc làm không đi đôi với nhau, cản trở tiến trình phát triển đất nước của một số cá nhân.

Xây dựng một nền hành chính trong sạch và hiệu qủa, nền hành chính phục vụ nhân dân. Người dân đóng thuế để nuôi bộ máy nhà nước, do vậy, bộ máy nhà nước phải có nghĩa vụ, trách nhiệm phục vụ nhân dân. Củng cố tình cảm, thái độ đúng đắn đối với pháp luật, với quá trình thực hiện và bảo vệ pháp luật. Tất cả cán bộ, công chức và mỗi người dân không những phải hiểu biết pháp luật mà còn phải có thói quen “sống, làm việc theo pháp luật”. Muốn tạo ra thói quen sống, làm việc theo pháp luật trước hết phải bắt buộc, nói cách khác khi đầu là bắt buộc dần dần mới thành thói quen, để có được thói quen, sự tự giác, lúc đầu cần phải nghiêm khắc, thậm chí là rất nghiêm khắc. Lênin đã từng nhấn mạnh: “Nếu không rơi vào không tưởng thì không thể nghĩ rằng sau khi lật đổ chủ nghĩa tư bản, người ta sẽ tức khắc có thể làm việc cho xã hội mà không cần phải có tiêu chuẩn pháp luật nào cả, hơn nữa, việc xoá bỏ chủ nghĩa tư bản không thể đem lại ngay được những tiền đề kinh tế cho một sự thay đổi như vậy”4. Đành rằng giáo dục, thuyết phục là quan trọng, nhưng sau khi đã giáo dục, thuyết phục, đã giải quyết có tình, có lý mà vẫn không thực hiện thì cần phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế cứng rắn một cách cương quyết, triệt để. Kinh nghiệm của một số trường hợp giải phóng mặt bằng và lập lại trật tự trong lĩnh vực giao thông thời gian qua đã cho thấy cần phải cương quyết cứng rắn hơn nữa. Cha ông ta đã có câu “mềm nắn, rắn buông”, việc Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nền dân chủ rộng rãi trong các hoạt động nhà nước và xã hội không có nghĩa là thiếu đi những biện pháp cương quyết, cứng rắn khi cần thiết vì lợi ích của cả cộng đồng. Tất nhiên để cương quyết được thì trước hết các cơ quan nhà nước, các nhà chức trách phải giải quyết, quyết định các vấn đề một cách thấu tình, đạt lý, vô tư, không thiên vị, vì lợi ích chung theo tinh thần “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”.

Tóm lại, nâng cao ý thức pháp luật trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền là vô cùng quan trọng. Bởi nếu ý thức pháp luật thấp thì khó có thể xây dựng và hoàn thiện được một hệ thống pháp luật khoa học, phù hợp, đồng thời với ý thức pháp luật thấp thì các chủ thể cũng khó có thể nhận thức, thực hiện và áp dụng pháp luật chính xác, có hiệu quả cao được. Việc nâng cao ý thức pháp luật ở nước ta hiện nay không nên chỉ chú ý tới việc xây dựng, hoàn thiện những tư tưởng quan điểm pháp lý mà còn cần phải chú trọng cả tới việc hình thành thái độ, tình cảm, cảm xúc pháp lý phù hợp, đúng đắn; có như vậy thì việc điều chỉnh pháp luật mới thực sự có hiệu quả cao.

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi chúng ta không chỉ có chủ trương, chính sách đúng mà còn cần phải chuẩn bị những con người có trí tuệ, thông minh, có trình độ chuyên môn cao, có thói quen và ý thức sống, làm việc, lao động theo pháp luật, đồng thời phải có tâm lý pháp luật đúng đắn, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, vì một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và hạnh phúc.
-------


1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật Hà Nội 1987, tr. 120.

2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội 1995 trang 56-57.

3 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội 1995 tr. 56.

4. V. I. Lênin, Toàn tập, tập 33, Nxb Tiến bộ Matxcova 1976, tr. 116.

17:19 | Posted in , | Read More »

HƯƠNG ƯỚC MỚI: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT


Tác giả: BÙI XUÂN ĐỨC
PGS.TS., Viện nghiên cứu 

Nhà nước và pháp luật
Nguồn: TẠP CHÍ KHPL Số 4 /2003, 
truy cập tại đây


I. HƯƠNG ƯỚC MỚI: SỰ ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI VIỆC BAN HÀNH VÀ THỰC HIỆN

1. Sự xuất hiện trở lại của hương ước

Hương ước, khoán ước (hay còn gọi nôm na là lệ làng) ở Việt Nam xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ XV. Đó là những quy ước liên quan đến các mặt của đời sống làng xã được ghi chép thành văn bản (cũng có thể gồm cả những điều lệ không được ghi chép mà truyền khẩu trong dân gian) được cộng đồng làng xã cùng nhau tuân thủ. Hương ước quy định về hầu hết các mặt hoạt động của làng xã người Việt như cách tổ chức và hoạt động của các thiết chế tổ chức trong làng xã; các hội tư văn, tư võ, hội thiện, phe giáp, xóm ngõ; các hoạt động xã hội như hội hè đình đám, tế lễ, tuần phòng, khao vọng, giao hiếu; và một số hoạt động kinh tế. Những quy ước này vừa có những nét chung vừa mang những nét riêng biệt của mỗi làng Việt. Qua thời gian hàng mấy thế kỷ phát triển cho đến trước Cách mạng tháng Tám, hương ước đã trở nên phổ biến ở hầu hết các làng xã Bắc bộ và lan rộng ra các nơi khác. Ngay thời kỳ thuộc địa, hương ước vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển. Do có chịu ảnh hưởng nhất định của chế độ thực dân nên gọi là hương ước cải lương.


Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhất là sau 1954, cơ cấu tổ chức làng xã phong kiến bị bãi bỏ, hương ước không còn cơ sở để tồn tại trong các làng đang được cải tạo theo mô hình chính quyền địa phương kiểu mới trong đó cấp cơ sở là xã bao gồm nhiều làng chứ không phổ biến một làng như trước. Bộ máy chính quyền mới và hệ thống pháp luật XHCN đã ra đời thay thế hầu như toàn bộ các quy định của “lệ làng” trong quản lý xã hội nông thôn. Tiếp đó, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình tập trung bao cấp với các hợp tác xã nông nghiệp là chủ thể kinh tế ở nông thôn làm cho làng mất dần vị trí và vai trò quan trọng của nó trong quản lý xã hội và bảo tồn các giá trị văn hóa ở nông thôn, càng làm cho các kiểu lệ làng biến sâu vào ngăn tủ. Tuy vậy, cũng phải thấy rằng hương ước không biến mất hoàn toàn mà nhiều nội dung của nó vẫn được duy trì bằng cách chuyển hóa và bảo tổn dưới các dạng nét văn hóa truyền thống, các sinh hoạt cộng đồng và các phong tục tập quán lành mạnh trong nhân dân.

Từ cuối những năm 80 đầu những năm 90, khi nông thôn Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới với việc giao khoán ruộng đất cho các hộ gia đình sử dụng ổn định và lâu dài (Nghị quyết 10), thì việc quản lý kinh tế-xã hội ở các thôn làng cũng bắt đầu chuyển đổi. Hộ gia đình không còn là “biến số” phụ thuộc vào HTX nông nghiệp như trước mà được trở lại là đơn vị kinh tế tự chủ, trở thành tác nhân quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn. Cùng với sự thay đổi vị trí của hộ gia đình, vị trí và vai trò quản lý kinh tế xã hội của làng thôn cũ – với tính cách là cộng đồng dân cư gắn kết truyền thống có thiết chế tổ chức riêng, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tâm lý, tính cách riêng của xã hội – đã dần dần được khẳng định trở lại. Các mặt tích cực trong hoạt động thôn làng như các thiết chế dân chủ hóa và văn hóa truyền thống, tín ngưỡng được đẩy mạnh, nhưng đồng thời các yếu tố tiêu cực như tranh chấp đất đai, thói gia trưởng dòng họ, các loại tệ nạn… cũng được dịp trỗi dậy. Pháp luật của Nhà nước lúc này không đủ và cũng không thể đủ để điều chỉnh các quan hệ trong một cộng đồng vốn rất đa dạng và phong phú hơn thời bao cấp. Công cụ hương ước – một hình thức bổ sung cho pháp luật, đáp ứng nhu cầu và cách thức quản lý mới ở thôn, bản – đến lúc này bắt đầu có điều kiện phục hồi trở lại và phát huy tác dụng.

Sự phục hồi của hương ước lúc đầu mang tính tự phát. Khi vai trò của làng, thôn truyền thống (khi đó còn gọi là xóm) được tái lập thì xã – với quy mô lớn, đội ngũ cán bộ còn yếu cũng như hệ thống pháp luật chưa đầy đủ, chưa cụ thể, khó áp dụng – đã gặp rất nhiều khó khăn trong quản lý, hầu như không thể với tới các làng, thôn; còn các làng, thôn thì lại thiếu công cụ để quản lý. Trước tình hình đó, nhiều làng ở đồng bằng Bắc Bộ đã tự soạn thảo ra các quy ước làng để làm “cơ sở pháp lý” cho việc quản lý, điều chỉnh các sinh hoạt của cộng đồng làng, thôn. Những nơi làm sớm việc này là Hà Bắc, Hà Tây, Thái Bình… rồi sau phát triển sang các địa phương khác.

Hương ước mới “tự phát” ra đời với nhiều tên gọi khác nhau như “Quy ước làng văn hóa”, “Quy ước làng”, “Quy ước nông thôn”, “Quy ước xây dựng nếp sống văn minh, lập lại kỷ cương xã hội”. Việc soạn thảo lúc đầu phần nhiều do các cụ về hưu, là những người nắm tương đối vững pháp luật, hiểu rõ phong tục tập quán của làng soạn thảo ra. Hoặc do một trong các đối tượng sau soạn thảo là: Cấp ủy chi bộ và ban quản lý xóm, Ban mặt trận xóm, Ban cán sự khối. Hoặc kết hợp cả Ban mặt trận, Trưởng xóm, Hội trưởng Hội bảo thọ. Sau khi soạn thảo bản hương ước được thông qua chi bộ Đảng và Đại hội Ban mặt trận làng. Tiếp đến đưa về các xóm đội sản xuất để mọi thành viên thảo luận, đóng góp ý kiến. Khi hai bước này được tiến hành và được sự nhất trí của đa số dân cư thì bản hương ước sẽ được đưa ra thông qua tại Đại hội toàn thôn, làng và được gửi lên Ủy ban nhân dân xã để phê duyệt. Cuối cùng là in ấn và thông báo cho mọi người thực hiện (thường phát đến tận nhà).

Nội dung các bản hương ước trước hết giới thiệu về truyền thống tốt đẹp của làng trong quá trình hình thành và phát triển qua các giai đoạn lịch sử như lòng yêu nước, đánh giặc giữ làng, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, chan hòa thân ái, có ngành nghề truyền thống, có đình, chùa, đền to đẹp, đặc biệt là những đóng góp trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Mục đích của việc ban hành hương ước là để giữ gìn và bảo vệ các thuần phong mỹ tục đó, đồng thời để đáp ứng cho thời kỳ phát triển mới. Tiếp đến là các quy định về xây dựng và bảo vệ chính quyền như giúp đỡ, tạo điều kiện cho các cấp chính quyền hoạt động, tham gia bầu chọn các chức danh tự quản ở thôn. Đặc biệt đầy đủ và cụ thể là các quy định về nếp sống văn hóa như ma chay, cưới xin, tín ngưỡng, gia đình con cái, khuyến học, an ninh trật tự, bảo vệ và phát triển sản xuất, bảo vệ môi trường, khen thưởng, xử phạt…

Mặc dù còn có nhiều hạn chế, nhưng sự ra đời của hương ước, quy ước đã đóng góp đắc lực cho việc quản lý thôn xóm thời kỳ này. Chính quyền địa phương các cấp đã có sự ủng hộ tích cực và hướng dẫn, chỉ đạo việc triển khai rộng khắp công tác này3. Tuy nhiên, công tác này thường được “khoán trắng” cho ngành văn hóa thông tin mà chưa có sự quan tâm đầy đủ của cấp ủy và chính quyền các cấp đúng nghĩa, đặc biệt là ở cấp trung ương hãy còn “im hơi lặng tiếng”.

Từ giữa những năm 90 trở đi, thấy rõ ý nghĩa tích cực của hương ước mới trong việc quản lý xã hội và thực hiện dân chủ ở nông thôn, Đảng và Nhà nước đã dành một sự quan tâm, đầu tư thích đáng. Tại Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành TƯ khóa VII, họp tháng 6 năm 1993, Tổng Bí thư Đỗ Mười đã nhấn mạnh: “Nhà nước cần sớm nghiên cứu đề ra quy chế thích hợp với chức năng, vai trò của xã, thôn, xóm, làng bản trong tình hình mới. Trong khuôn khổ của pháp luật và dựa vào những quy định này có thể xây dựng hương ước làm cơ sở để tổ chức quản lý hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng…”. Văn kiện Hội nghị này đã ghi: “Khuyến khích xây dựng và thực hiện các hương ước, quy chế về nếp sống văn minh ở các thôn xã”4. Ngày 18-2-1998 Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 30/CT-TƯ về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, tăng cường công tác quản lý Nhà nước đối với việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước. Tiếp sau đó, dưới góc độ toàn quốc, Nhà nước đã ban hành một loạt văn bản chỉ đạo, hướng dẫn việc ban hành và thực hiện hương ước, quy ước như: Nghị định số 29/NĐ-CP ngày 11-5-1998 của Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 19-6-1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư, Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT/BTP-BVHTT-BTTUBTƯMTTQVN ngày 31-3-2000 của Liên bộ Tư pháp, Văn hóa – Thông tin, Ban thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, cụm dân cư. Với nền tảng pháp luật này5, hương ước mới đã được chính thức hóa và được triển khai mạnh mẽ trên toàn quốc.

2. Điều chỉnh pháp luật đối với việc ban hành, thực hiện hương ước

Văn bản có tính chất pháp lý cao nhất về vấn đề này là Nghị định số 29/NĐ-CP ngày 11/5/1998 của Chính phủ về ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã. Tiếp đến là Chỉ thị số 24/TC-TTg ngày 19/6/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư và đặc biệt là Thông tư liên tịch số 03/TTLT/BTP-BVHTT-BTTUBTƯMTTQVN ngày 31/3/2000 của Liên Bộ Tư pháp, Văn hóa – Thông tin, Ban Thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, thôn, ấp, bản, cụm dân cư đã cụ thể hóa một cách khá chi tiết sự điều chỉnh pháp luật đối với công tác này. Theo đó quy trình ban hành và thực hiện hương ước mới được tiến hành như sau:

2.1. Hình thức thể hiện của hương ước:

- Về tên gọi: Thống nhất tên gọi chung là Hương ước hoặc Quy ước (làng, thôn, ấp, bản, cụm dân cư).

- Về cơ cấu: Có lời nói đầu ghi nhận truyền thống văn hóa của địa phương, nêu mục đích của việc xây dựng hương ước. Tiếp đến là các chương, mục, điều, khoản, điểm.

2.2. Nội dung quy định của hương ước:

Hương ước là văn bản quy phạm xã hội trong đó quy định các quy tắc xử sự chung do cộng đồng dân cư cùng thỏa thuận đặt ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội mang tính tự quản của nhân dân nhằm giữ gìn và phát huy những phong tục, tập quán tốt đẹp và truyền thống văn hóa trên địa bàn làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư, góp phần hỗ trợ tích cực cho việc quản lý Nhà nước bằng pháp luật. Nội dung hương ước cần tập trung quy định về các vấn đề sau:

a) Đề ra các biện pháp, phương thức thích hợp giúp dân cư trên địa bàn tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, bảo đảm phát huy quyền tự do, dân chủ của nhân dân; động viên và tạo điều kiện để nhân dân thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ công dân;

b) Bảo đảm giữ gìn và phát huy thuần phong, mỹ tục, thực hiện nếp sống văn minh trong ứng xử, giao tiếp, ăn, ở, đi lại, xóa bỏ hủ tục, phát triển các hoạt động văn hóa lành mạnh, xây dựng và phát huy tình làng nghĩa xóm, đoàn kết, tương thân, tương ái, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng dân cư; thực hiện tốt các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước;

c) Đề ra các biện pháp góp phần bảo vệ tài sản Nhà nước, tài sản công cộng và tài sản công dân, bảo vệ môi trường sống, bảo vệ rừng, biển, sông, hồ, danh lam thắng cảnh, đền chùa, miếu mạo, các nguồn nước, đê điều, đập nước, kênh mương, kè cống, đường dây tải điện; xây dựng và phát triển đường làng, ngõ xóm, trồng cây xanh;

d) Đề ra các biện pháp bảo vệ thuần phong, mỹ tục, bài trừ các hủ tục, tệ nạn xã hội và mê tín dị đoan trong việc cưới hỏi, việc tang, lễ hội, thờ phụng ở địa phương; khuyến khích những lễ nghi lành mạnh, tiết kiệm, hạn chế ăn uống lãng phí, tốn kém;

đ) Góp phần xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, xây dựng làng, thôn, bản, ấp, cụm dân cư văn hóa, hình thành các quy tắc đạo đức mới trong gia đình và cộng đồng; khuyến khích mọi người đùm bọc, giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn, hoạn nạn, ốm đau; vận động thực hiện các chính sách dân số – kế hoạch hóa gia đình, xây dựng các gia đình theo tiêu chuẩn gia đình văn hóa;

e) Xây dựng tình đoàn kết, tương thân, tương ái trong cộng đồng, vận động các thành viên trong gia đình, họ tộc, xóm làng đoàn kết nhau để xóa đói giảm nghèo, phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, khuyến học, khuyến nghề ở địa phương; vận động các thành viên trong cộng đồng tham gia tổ hợp tác, hợp tác xã nhằm phát triển sản xuất. Khuyến khích phát triển các làng nghề; đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng: điện, đường, trường học, trạm xá, nghĩa trang, các công trình văn hóa thể thao trên địa bàn. Lập, thu chi các loại quỹ trong khuôn khổ pháp luật và phù hợp khả năng đóng góp của nhân dân.

g) Đề ra các biện pháp cụ thể bảo vệ trật tự, trị an trên địa bàn góp phần phòng chống các tệ nạn xã hội như ma túy, cờ bạc, rượu chè bê tha, trộm cắp, mại dâm và các hành vi khác vi phạm pháp luật nhằm xây dựng địa bàn trong sạch. Phát động trong nhân dân ý thức phòng gian, bảo mật, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật về tạm trú, tạm vắng; tham gia quản lý, giáo dục, giúp đỡ những người lầm lỗi tại cộng đồng dân cư. Đề ra các biện pháp cần thiết hỗ trợ cơ quan có thẩm quyền phát hiện, xử lý vi phạm pháp luật trên địa bàn; bảo đảm triển khai thực hiện các quy định của pháp luật về tổ chức tự quản ở cơ sở như Tổ hòa giải, Ban an ninh, Tổ bảo vệ sản xuất, Ban kiến thiết và các tổ chức tự quản khác;

h) Đề ra các biện pháp thưởng, phạt phù hợp để bảo đảm thực hiện hương ước:

- Hương ước quy định các hình thức và biện pháp khen thưởng đối với cá nhân, hộ gia đình có thành tích trong việc xây dựng và thực hiện hương ước như: lập sổ vàng truyền thống, nêu gương người tốt việc tốt, ghi nhận công lao, thành tích của tập thể, cá nhân; bình xét, công nhận gia đình văn hóa và các hình thức khen thưởng khác do cộng đồng tự thỏa thuận hoặc đề nghị các cấp chính quyền khen thưởng theo quy định chung của Nhà nước.

- Đối với những người có hành vi vi phạm các quy định của hương ước thì chủ yếu áp dụng các hình thức giáo dục, phê bình của gia đình, tập thể cộng đồng, thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng ở cơ sở. Trường hợp vi phạm nghiêm trọng các quy định của hương ước thì trên cơ sở thảo luận thống nhất trong tập thể cộng đồng, có thể buộc thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm trong phạm vi cộng đồng hoặc áp dụng các biện pháp phạt nhưng không được đặt ra các biện pháp xử phạt nặng nề xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân. Trong hương ước không đặt ra các khoản lệ phí.

- Hương ước có thể đề ra các biện pháp nhằm góp phần giáo dục những người có hành vi vi phạm pháp luật bị giáo dục tại xã, phường, thị trấn; giáo dục, cảm hóa giúp đỡ người phạm tội sau khi ra tù trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội.

- Những hành vi vi phạm pháp luật phải do các cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật. Việc áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hương ước không thay thế các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật.

2.3. Thủ tục soạn thảo, thông qua, phê duyệt, tổ chức thực hiện và sửa đổi, bổ sung hương ước:

Hương ước phải được xây dựng một cách dân chủ, công khai, phù hợp với pháp luật, được chia theo các bước sau:

- Bước 1: Thành lập các Nhóm soạn thảo và tổ chức soạn thảo hương ước.

Trưởng thôn, làng, ấp, bản, cụm dân cư (Trưởng thôn) chủ trì cùng Bí thư chi bộ, Trưởng ban công tác Mặt trận thống nhất các nội dung cơ bản cần soạn thảo, đồng thời chỉ định các thành viên Nhóm soạn thảo…

Trưởng thôn chủ trì, phối hợp với Ban công tác Mặt trận, dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng ở cơ sở chỉ đạo nhóm soạn thảo xây dựng hương ước.

- Bước 2: Tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức và nhân dân vào Dự thảo hương ước.

Dự thảo được gửi đến cơ quan chính quyền, cấp ủy, lãnh đạo các tổ chức chính trị xã hội ở cấp xã; nếu điều kiện cho phép thì gửi đến từng hộ gia đình để lấy ý kiến đóng góp. Có thể thảo luận ở tổ, đội sản xuất, tổ dân phố, ngõ xóm, nhóm các hộ gia đình, thảo luận ở các tổ chức đoàn thể ở thôn, làng, cụm dân cư, niêm yết, phát thanh trên đài truyền thanh, mở hộp thư để góp ý kiến. Dự thảo có thể được Hội đồng nhân dân hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã thảo luận, tham gia ý kiến.

- Bước 3: Thảo luận và thông qua hương ước.

Trên cơ sở những đóng góp, Nhóm soạn thảo chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo và gửi tới các thành phần sẽ được dự kiến mời tham gia Hội nghị thông qua hương ước. Hội nghị cử tri hoặc Hội nghị đại biểu hộ gia đình ở làng, thôn, bản, ấp, cụm dân cư được tiến hành khi có ít nhất 2/3 tổng số thành phần cử tri hoặc đại diện hộ gia đình tham dự. Hương ước được thông qua khi có quá nửa số người tham dự tán thành. Hình thức biểu quyết do Hội nghị quyết định có thể bằng cách giơ tay hoặc bỏ phiếu.

Hương ước chính thức thông qua trình phê duyệt có chữ ký của Trưởng thôn, Bí thư chi bộ, Trưởng ban công tác Mặt trận và già làng (nếu có) kèm theo biên bản Hội nghị thông qua hương ước.

- Bước 4: Phê duyệt hương ước.

Sau khi hương ước được thôngqua, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cùng Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã xem xét nội dung của hương ước bảo đảm phù hợp với pháp luật, thuần phong mỹ tục và trao đổi thống nhất với Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp xã về nội dung của hương ước trước khi trình lên cấp huyện phê duyệt.

Hương ước gửi lên Ủy ban nhân dân cấp huyện duyệt kèm công văn đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp xã. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, phê duyệt hương ước trong thời hạn 30 ngày bằng một quyết định phê duyệt hương ước. Hương ước được phê duyệt có đóng dấu giáp lai.

Trường hợp hương ước không được phê duyệt thì Phòng Tư pháp chủ trì, phối hợp với Phòng Văn hóa – Thông tin hướng dẫn cơ sở chỉnh lý, hoàn thiện hương ước đó để trình lại.

Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm chuyển hương ước đã được phê duyệt để trưởng thôn tổ chức thực hiện; phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội ở cơ sở chỉ đạo, đôn đốc thực hiện hương ước; kiểm tra, phát hiện và kịp thời chấn chỉnh những sai trái, lệch lạc, tiêu cực trong việc thực hiện hương ước; định kỳ báo cáo với Ủy ban nhân dân cấp trên và Hội đồng nhân dân cùng cấp việc thực hiện hương ước.

Hàng năm cần tổ chức kiểm điểm việc thực hiện hương ước. Trong trường hợp cần sửa đổi, bổ sung thì do Hội nghị cử tri hoặc Hội nghị đại biểu hộ gia đình thông qua theo trình tự, thủ tục chung.

Qua trên có thể thấy, ở phạm vi chung toàn quốc, pháp luật điều chỉnh việc ban hành và thực hiện hương ước, quy ước cho đến nay đã khá đầy đủ và chi tiết. Ngoài ra ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cũng quan tâm chỉ đạo, ra những văn bản hướng dẫn chi tiết hơn vấn đề này phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương. Trên cơ sở đó, việc ban hành và thực hiện hương ước về cơ bản đã đi vào nề nếp.

II. HOÀN THIỆN CƠ SỞ PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI VIỆC BAN HÀNH VÀ THỰC HIỆN HƯƠNG ƯỚC MỚI

1. Những sai sót, vướng mắc trong việc ban hành và thực hiện hương ước

Như đã trình bày ở trên, vấn đề quản lý Nhà nước đối với việc ban hành và thực hiện hương ước mới hiện nay đã được tăng cường thông qua những chỉ đạo hướng dẫn sát sao, cụ thể của các cấp, các ngành. Tuy nhiên, trên thực tế, việc ban hành và thực hiện hương ước không phải không còn có những hạn chế, khiếm khuyết, có thể kể ra đây những hạn chế sau:

1.1. Tên gọi và đối tượng điều chỉnh còn lẫn lộn, chủ thể ban hành hương ước, quy ước chưa đúng quy định. Các hương ước phần nhiều lẫn lộn với quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở. Thực ra thì quy chế thực hiện dân chủ ở xã do Chính phủ ban hành cho chính quyền cấp xã thực hiện bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Các địa phương (xã, phường, thị trấn) có thể cụ thể hóa quy chế ở địa phương mình bằng việc ban hành một bản riêng (ví dụ, xã An Tây, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã mình6) còn hương ước, quy ước là văn bản quy phạm xã hội của cộng đồng làng, thôn…, ấp, bản do cộng đồng ban hành theo hướng dẫn chung của Nhà nước. Thế nhưng đã có nơi như xã Thượng Kiệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình ban hành Quy ước thực hiện dân chủ của xã… mà nội dung là giống một bản hương ước. Cái sai ở đây là đáng lẽ xã ban hành quy chế thì lại ra quy ước. Mà khi đã là quy ước thì lại không phải do xã ban hành mà phải là một làng, thôn nào đó mới phải.

1.2. Nội dung hương ước mới còn sơ sài, lặp lại pháp luật và chủ trương chính sách của Nhà nước một cách khô khan, thiếu cụ thể, chưa sát thực với điều kiện và đặc điểm của từng làng, câu chữ trong văn bản còn nặng tính hô hào, khẩu hiệu. Có không ít bản hương ước có những điều khoản không đúng với tinh thần của pháp luật, can thiệp quá sâu vào đời sống cá nhân, đi ngược lại cả những phong tục truyền thống từ lâu đời, thậm chí quy định cả những “hình phạt” vốn không thuộc thẩm quyền của cấp cơ sở. Nơi này, nơi kia chúng biến tướng thành một thứ “lệ làng” – với nghĩa tiêu cực của từ này – do các ông trưởng thôn, chủ tịch xã quan liêu, hách dịch, thiếu hiểu biết, tùy tiện đặt ra bắt dân phải tuân theo. Số liệu thống kê cho thấy trong số 230 hương ước trái pháp luật mà Viện Kiểm sát của 29 tỉnh phát hiện trong những năm 1999 đến tháng 8 năm 2001 thì có khá nhiều bản có nội dung không chỉ trái với quy định của pháp luật Nhà nước mà còn trái cả với nhân tính, đạo lý của nhân dân ta. Chẳng hạn, Hương ước của làng Bình Lộc, xã Bình Điền, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế quy định phụ nữ 20 tuổi, nam giới 22 tuổi mới được kết hôn. Điều này là trái với Luật Hôn nhân và Gia đình. Quy ước của 7 làng thuộc huyện Hương Trà quy định phụ nữ nào không lấy được chồng thì trên 30 tuổi mới có quyền làm mẹ và chỉ được sinh 1 con. Có hương ước (số này không ít, chiếm tới 7%) quy định hình thức “xử lý hình sự” đối với các tội: đánh bạc, trộm cắp, mua bán, tiêm chích ma túy… mà như đã biết những tội và hình phạt này được quy định trong Bộ luật Hình sự. Có hương ước nêu thành nguyên tắc: “Nếu người làng không chấp hành đúng hương ước, quy ước của làng, xã thì sẽ bị xử lý hình sự” (!)7.

1.3. Nhiều bản hương ước quy định các hình thức phí, lệ phí, xử phạt một cách tùy tiện, bừa bãi. Trong số 230 văn bản nêu trên có đến 24 văn bản quy định cấp thôn, làng, bản được thu phí, lệ phí. Ở một số xã của huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh có các hương ước quy định: “Các chủ phương tiện có xe bò, xe công nông thuộc người làng phải nộp lệ phí 12 xe sỏi/năm. Người ngoài có xe ô tô đi qua làng phải đóng góp tu bổ đường 4.000đồng/chuyến, xe công nông 3.000đồng/chuyến…”. Nhiều hương ước tại các tỉnh Thừa Thiên-Huế, Ninh Thuận, Lạng Sơn, Nghệ An có quy định người dân phải nộp lệ phí giải quyết các đơn từ. Hương ước của 4 xã ở huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây quy định mức lệ phí xác nhận đơn từ 20.000 – 30.000đ/đơn. Đó là chưa kể các khoản lệ phí kết hôn, mai táng người chết. Có tới 180 hương ước (chiếm 78,3%) quy định hành vi vi phạm hành chính và các hình thức xử phạt mà lẽ ra thẩm quyền này theo pháp luật chỉ thuộc Chính phủ. Nhiều hương ước (đã qua khâu thẩm định, phê duyệt ở huyện) quy định các thôn được phạt cảnh cáo, phạt tiền, tịch thu tang vật vi phạm8.

2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện điều chỉnh pháp luật đối với việc ban hành và thực hiện hương ước trong giai đoạn hiện nay

Với những hạn chế nêu trên, tính thiết thực, tính khả thi và tính hiệu quả của hương ước mới ở nhiều nơi chưa cao. Thực trạng này đặt ra trước cơ quan quản lý Nhà nước những đòi hỏi mới về công tác chỉ đạo hướng dẫn và giám sát việc ban hành và thực hiện hương ước, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật cho phù hợp và sát thực tế hơn. Theo chúng tôi cần tập trung vào các điểm sau:

Một là, Có các biện pháp nâng cao trình độ của cán bộ cấp thôn, xã. Có thể thấy các sai sót của các bản hương ước, quy ước nêu trên là do yếu kém về nhận thức của cán bộ nói chung và cán bộ được phân công làm việc đó. Quy định của các văn bản hướng dẫn của Nhà nước về thủ tục thông qua hương ước có thể thấy là khá chặt chẽ, có sự tham gia của nhiều tổ chức chính quyền, đoàn thể mà vẫn để sai sót xảy ra rõ ràng là do trình độ chung của cán bộ ở cơ sở.

Hai là, Khắc phục tình trạng các ngành chức năng chậm chạp trong việc hướng dẫn cơ sở về vấn đề này. Để hướng dẫn thiết thực hơn, nên chăng các ngành chức năng của các địa phương cần soạn thảo ra một Hương ước mẫu để các nơi làm theo.

Ba là, Nêu cao trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong việc thẩm định, phê duyệt hương ước. Rõ ràng nếu không có sự thiếu trách nhiệm trong việc này thì không thể có tình trạng vi phạm pháp luật nêu trên.

Bốn là, Cần cụ thể hóa hơn nữa các quy định của Chính phủ, các Bộ có liên quan về vấn đề này để khắc phục những chỗ còn chưa rõ ràng, chưa cụ thể dẫn đến gây hiểu nhầm và vận dụng sai, ví dụ đoạn hướng dẫn ở điểm h, mục 1, Thông tư liên bộ nói trên cho phép “hương ước có thể buộc thực hiện nghĩa vụ, áp dụng các biện pháp phạt nhưng không được đặt ra các biện pháp xử phạt nặng nề”, vậy thế nào là “nặng nề” và “không nặng nề”?

Năm là, Cần xem xét đơn giản hóa thủ tục thông qua và phê duyệt hương ước, quy ước. Quy định hiện hành đưa ra quy trình soạn thảo và lấy ý kiến đóng góp vào Dự thảo hương ước quá nhiều khâu, nhiều cấp, đặc biệt yêu cầu Hội nghị thông qua hương ước phải có 2/3 thành phần tham dự là quá cao. Nên chăng bỏ bớt quy trình phải có sự thảo luận của Hội đồng nhân dân và Ủy bana4 đối với hương ước vì hương ước là của thôn, làng. Hội nghị thông qua hương ước chỉ cần quá nửa số cử tri hoặc đại diện chủ hộ là đủ, nhất là khi sửa đổi, bổ sung. Thủ tục phê duyệt hương ước cũng quá phức tạp. Có lẽ chỉ cần để Ủy ban nhân dân cấp xã phê duyệt là đủ (tiện đây cũng xin nêu luôn một sự thiếu nhất quán trong các văn bản: tại Nghị định 29/CP của Chính phủ quy định hương ước do Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã đề nghị và Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện phê duyệt, nhưng tại Thông tư liên tịch số 03/TTLT lại quy định hương ước do Ủy ban nhân dân cấp xã đề nghị?).

Sáu là, Hương ước nói chung là bản điều lệ tự quản của làng, thôn, ấp, bản, không nên chỉ nặng về quy định hành vi và chế tài. Cần có quy định cả về tổ chức các thiết chế tự quản để dân cư tham gia quản lý Nhà nước ở cơ sở. Nâng dần vai trò của hương ước để có thể trở thành một văn bản tự quản của cấp chính quyền mới có thể sẽ được nghiên cứu lập ra theo mô hình chính quyền tự quản trong tương lai.
----------------------------------------------------------
Chú thích


1. Trích theo: Phan Đại Doãn và Bùi Xuân Đính, Ba thời kỳ phát triển của hương ước, trong cuốn “Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam”, NXB Chính trị quốc gia, H., 2000, tr. 124.

2. Sau khi thiết lập quy mô xã mới theo nhiều làng xã thì các làng xã cũ lúc đầu còn được gọi là một đơn vị hành chính nhưng sau đó thì chia thành các xóm. Dần dần quen gọi đơn vị dưới xã là xóm. Mãi gần đây pháp luật mới gọi lại đúng tên của nó (TG).

3 Xem: ví dụ, Nghị quyết số 38/HĐND 9 tháng 4/1993 của tỉnh Hà Bắc về xây dựng quy ước làng văn hóa; Nghị quyết số 55/NQHĐND năm 1992 của Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Tây về việc xây dựng quy ước làng văn hóa; Quyết định số 07/QĐUB ngày 6/1/1994 của UB nhân dân tỉnh Thái Bình về thực hiện nếp sống văn hóa; Nghị quyết số 08/NQ/TV ngày 30/7/1994 của Ban thường vụ tỉnh ủy Thái Bình về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở…

4 Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 BCHTW khóa VII, NXB Chính trị quốc gia, H., 1993, tr. 73.

5 Ngoài ra còn có các văn bản hướng dẫn cụ thể do các địa phương ban hành, ví dụ như: Tài liệu hướng dẫn xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước làng, bản, thôn, khối phố, cụm dân cư do Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa ban hành năm 2002 v.v…

6 Xem trong: Cộng đồng làng xã Việt Nam hiện nay, Chủ biên: Nguyễn Văn Sáu và Hồ Văn Thông, NXB Chính trị quốc gia, H., 2001.

7 Theo: Mạnh Quân, “Lệ làng”: Lắm khi hơn cả “phép vua”, Báo Thanh Niên, số ra ngày 25/8/2001.

8 Mạnh Quân, tài liệu đã dẫn.

17:01 | Posted in , | Read More »

CUỘC TỔNG TUYỂN CỬ ĐẦU TIÊN NĂM 1946 – MỘT MỐC SON LỊCH SỬ CỦA THỂ CHẾ DÂN CHỦ VIỆT NAM

Tổng tuyển cử bầu Quốc hội Khóa I ngày 6/1/1946
Tác giả: TRƯƠNG ĐẮC LINH *
TS. Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
Nguồn: Tạp chí khoa học pháp lý, Số 1/2006, truy cập tại đây



Ngày 3/9/1945, chỉ một ngày sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị một trong sáu nhiệm vụ cấp bách cần phải thực hiện ngay là “... tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu” để bầu ra Quốc hội. Quốc hội đó là cơ quan có quyền lực tối cao của nhân dân sẽ cử ra một Chính phủ thật sự của toàn dân và ấn định cho nước Việt Nam một hiến pháp dân chủ [1]. Vượt lên muôn vàn khó khăn của thù trong, giặc ngoài với những âm mưu đen tối của các thế lực phản động định tiêu diệt cách mạng Việt Nam, cũng như giặc đói, giặc dốt...là di chứng của chế độ thực dân đế quốc để lại, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946 đã được tổ chức thành công, một cuộc bầu cử thật sự tự do, thật sự dân chủ, là mốc son lịch sử của thể chế dân chủ ở Việt Nam. Nhân kỷ niệm 60 năm cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946, việc nghiên cứu để kế thừa và phát triển những quy định của các sắc lệnh đầu tiên về Tổng tuyển cử và thực tiễn tổ chức cuộc Tổng tuyển cử này trong tiến trình đổi mới hệ thống chính trị nói chung, đổi mới chế độ bầu cử ở nước ta hiện nay nói riêng là rất cần thiết và có ý nghĩa.


1. Những sắc lệnh đầu tiên về Tổng tuyển cử là cơ sở pháp lý nền tảng của một chế độ bầu cử thực sự tự do, thực sự dân chủ

Sau khi quyết định tổ chức tổng tuyển cử, Chính phủ lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã khẩn trương xây dựng và ban hành gần một chục sắc lệnh về bầu cử nhằm bảo đảm cơ sở pháp lý cho cuộc Tổng tuyển cử được tự do, dân chủ. Cùng với việc ban hành các sắc lệnh về Tổng tuyển cử, Chính phủ lâm thời cũng công bố bản dự thảo Hiến pháp đầu tiên để nhân dân tham gia ý kiến [2]. Nghiên cứu các quy định của các sắc lệnh về Tổng tuyển cử đầu tiên của nước ta có thể rút ra một số nhận xét sau:

Một là, Trong lịch sử hiếm có một quốc gia nào vừa giành được độc lập, với biết bao khó khăn đang chồng chất lại dám quyết định tổ chức một cuộc tổng tuyển cử thật sự dân chủ và sớm ban bố những sắc lệnh về Tổng tuyển cử và dự thảo Hiến pháp như nước Việt Nam ta hồi bấy giờ [3].

Điều này thể hiện ở chỗ: chỉ một ngày sau khi tuyên bố Độc lập, Chính phủ lâm thời đã quyết định tổ chức tổng tuyển cử. năm ngày sau đó, ngày 8/9/1945 ban hành Sắc lệnh đầu tiên (SL số 14) để chính thức ấn định sau 2 tháng sẽ mở cuộc tổng tuyển cử. Ngày 26/9/1945, ban hành Sắc lệnh số 39 về lập một Uỷ ban dự thảo thể lệ Tổng tuyền cử [4]. Chỉ trong vòng một tháng rưỡi Uỷ ban này đã soạn thảo xong bản dự thảo để Chính phủ chính thức ban hành Sắc lệnh số 51 ngày 17/10/1945 về Thể lệ Tổng tuyển cử với những quy định thật sự tự do, thật sự dân chủ và kèm theo Sắc lệnh này là Bảng ấn định số đại biểu các tỉnh và thành phố được bầu. Ngày 2/12/1945, Chính phủ ban hành tiếp Sắc lệnh số 71 và Sắc lệnh số 72 để sửa đổi, bổ sung Sắc lệnh 51 về thủ tục ứng cử; bổ sung số đại biểu được bầu cho một số tỉnh để nâng tổng số đại biểu Quốc hội lên 330 đại biểu. Để tạo điều kiện cho những người có quyền ứng cử và có nguyện vọng ứng cử có đủ thời gian ứng cử và vận động tuyển cử, ngày 18/12/1945, Chính phủ đã ban hành Sắc lệnh số 76 quyết định hoãn cuộc Tổng tuyển cử đến ngày 6/1/1946[5] v.v.

Cũng cần phải nói thêm rằng, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra đề nghị tổ chức Tổng tuyển cử, thấy một số người tỏ vẻ lo lắng cuộc Tổng tuyển cử sẽ không có kết quả, do trình độ nhân dân lúc bấy giờ quá thấp, Bác Hồ với lòng tin tuyệt đối vào nhân dân, đã khẳng định: nhân dân sẽ biết sử dụng lá phiếu của mình. Tổng tuyển cử nhất định thành công [6].

Hai là, Các sắc lệnh về Tổng tuyển cử đầu tiên ở nước ta đã có những quy định thể hiện một cách triệt để nội dung, yêu cầu nguyên tắc tự do bầu cử, ứng cử của công dân.

Điều 2 Sắc lệnh 14 và Sắc lệnh 51 quy định rõ: "Tất cả công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên không phân biệt nam nữ đều có quyền bầu cử và ứng cử...". Nguyên tắc tự do bầu cử trong cuộc Tổng tuyển cử được Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích trên báo Cứu Quốc ngày 30/12/1945: "... hễ là người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử, hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử. Không chia gái trai, giầu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó"[7].

Trong các quyền bầu cử và ứng cử, quyền tự do ứng cử của công dân là đặc biệt quan trọng. Điều 11 Sắc lệnh 51 ngày 17/10/1945 quy định: chậm nhất là 15 ngày trước ngày bỏ phiếu, công dân có quyền bầu cử muốn ứng cử chỉ cần gửi thẳng đơn ứng cử lên UBND tỉnh (hay thành phố) nơi mình ra ứng cử kèm theo giấy chứng nhận của UBND nguyên quán hoặc nơi trú ngụ là đủ điều kiện ứng cử. Còn Điều 12 Sắc lệnh 51 quy định: Người ứng cử được tự do ứng cử nơi mình chọn lấy nhưng chỉ một nơi ấy thôi. Hơn thế nữa, do giao thông khi đó đi lại khó khăn, để tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho công dân có quyền bầu cử thực hiện được quyền tự do ứng cử, Sắc lệnh số 71 ngày 2/12/1945 còn sửa đổi quy định Điều 11 Sắc lệnh 51 nói trên để người ứng cử chỉ cần "gửi đơn ứng cử cho UBND nơi mình trú ngụ" và "yêu cầu UBND ấy điện cho UBND tỉnh (thành phố) nơi mình xin ứng cử " thì đã được đưa tên vào danh sách ứng cử của tỉnh hoặc thành phố đó. Còn đơn và giấy chứng nhận đủ điều kiện ứng cử sẽ do UBND nơi trú ngụ chuyển sau cho UBND tỉnh, thành phố. Có lẽ từ trước đến nay, chưa ở đâu và chưa bao giờ pháp luật bầu cử lại có quy định về thủ tục ứng cử đơn giản, thuận lợi và độc đáo như quy định này của Sắc lệnh số 71 ngày 2/12/1945 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành.

Đặc biệt, khi thấy có những nhân sĩ muốn ra ứng cử nhưng không đủ thì giờ để nộp đơn và vận động tranh cử, ngày 18/12/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 76 của Chính phủ lâm thời quyết định hoãn cuộc Tổng tuyển cử đến ngày 6/ 1/1946 và quy định hạn nộp đơn ứng cử kéo dài đến ngày 27/12/1945 để những người có quyền ứng cử và có nguyện vọng ứng cử đủ thời gian nộp đơn ứng cử và vận động tranh cử.

Nguyên tắc bầu cử tự do còn thể hiện trong các quy định về tự do vận động tranh cử. Sắc lệnh số 51 về Thể lệ Tổng tuyển cử quy định về vận động tuyển cử, trong đó xác định: mọi cá nhân và tổ chức được tự do vận động tuyển cử, nhưng cuộc vận động không được trái với nền Dân chủ cộng hòa. Những cuộc tuyên truyền vận động có tính cách phương hại đến nền độc lập và cuộc trị an đều bị cấm (Điều 3 - Điều 6) v.v.

Những quy định nói trên của các sắc lệnh về Tổng tuyển cử thể hiện triệt để nguyên tắc tự do bầu cử, là cơ sở pháp lý rất quan trọng bảo đảm cho mọi công dân có quyền bầu cử muốn ứng cử đều có thể thực hiện được trực tiếpdễ dàng quyền tự do ứng cử, tự do vận động tranh cử của mình. Chính vì vậy nguyên tắc này đã đi vào cuộc sống, trở thành hiện thực sinh động của một cuộc Tổng tuyển cử thực sự tự do, thực sự dân chủ. Điều này cũng lý giải tại sao trong cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946, để bầu được 333 đại biểu đã có hàng nghìn người ứng cử và ở mỗi đơn vị bầu cử (tỉnh hay thành phố), số ứng cử viên nhiều hơn gấp nhiều lần số đại biểu cần bầu. Ví dụ, ở thành phố Hà Nội (nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh ứng cử), được bầu 6 đại biểu nhưng có tới 74 người ứng cử.

Ba là, Các sắc lệnh về Tổng tuyển cử đầu tiên ở nước ta thể hiện triệt để ngay nội dung, yêu cầu các nguyên tắc bầu cử phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.

Nguyên tắc bầu cử phổ thông đầu phiếu trong cuộc tổng tuyển cử đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3/9/1945: "Tất cả công dân trai gái 18 tuổi đều có quyền bầu cử và ứng cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống...". Nguyên tắc này được chính thức quy định tại Điều 2 Sắc lệnh số 14 và Sắc lệnh số 51.

Mục đích của nguyên tắc bầu cử phổ thông là nhằm thu hút tuyệt đại đa số dân cư ở trong nước đạt đến độ tuổi trưởng thành nhất định theo quy định của pháp luật tham gia vào bầu cử. Nhưng điểm độc đáo của việc áp dụng triệt để nội dung, yêu cầu của nguyên tắc này trong cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên ở nước ta là pháp luật không chỉ bảo đảm quyền bầu cử cho những người đang là công dân Việt Nam, mà còn bảo đảm cho cả những người nước ngoài đã sống lâu năm ở Việt Nam, tỏ lòng trung thành với nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và có mong muốn được tham gia Tổng tuyển cử cũng được tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho họ thực hiện quyền bầu cử. Vì vậy, ngày 7/12/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 73 quy định điều kiện, thủ tục cho người nước ngoài được nhập quốc tịch Việt Nam để họ trở thành công dân Việt Nam, được hưởng quyền bầu cử. Điều đặc biệt đáng lưu ý là thủ tục nhập quốc tịch nếu theo Điều 4 Sắc lệnh số 73 thì đơn xin nhập quốc tịch phải qua UBND tỉnh, rồi chuyển tiếp cho Ủy ban kỳ, sau đó được chuyển cho Bộ Tư pháp xem xét và quyết định. Nhưng Điều 5 của Sắc lệnh 73 quy định: "những người xin nhập quốc tịch Việt Nam mà được Ủy ban nhân dân tỉnh thấy có đủ điều kiện và ưng nhận, thì được hưởng ngay quyền bầu cử và ứng cử, không phải chờ sắc lệnh cho nhập quốc tịch Việt Nam".

Về nguyên tắc bầu cử bình đẳng: Trong các nguyên tắc cơ bản về quyền con người nói chung, về quyền bầu cử nói riêng, nguyên tắc bình đẳng là quan trọng nhất. Sắc lệnh về Tổng tuyển cử quy định nguyên tắc bầu cử bình đẳng, nhất là bình đẳng nam nữ về quyền bầu cử, ứng cử ngay trong những ngày đầu tiên của nền Cộng hòa dân chủ nhân dân ở nước ta có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Vì như chúng ta đã biết, Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ đưa ra tuyên bố bất hủ: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được...”. Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng khẳng định một điều không ai có thể chối cãi được: "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi". Nhưng chế độ bầu cử ở một số nước trước đây suốt một thời gian dài cả hàng trăm năm sau những tuyên bố "bất hủ" này về quyền bình đẳng đã phân biệt về giới tính để tước đoạt quyền bầu cử, ứng cử của phụ nữ. Nước Mỹ, mãi năm 1920 Hiến pháp mới quy định cho phụ nữ có quyền bầu cử; còn quyền bầu cử của phụ nữ nước Anh là năm 1928, Italia năm 1945. Nước Pháp từng tự xưng là đi "khai hóa văn minh" cho các nước khác, trong đó có Việt Nam, nhưng trước năm 1946 phụ nữ Pháp cũng không được hưởng quyền bầu cử. Thậm chí, phụ nữ Thuỵ Sĩ phải mãi đến năm 1971 mới được hưởng quyền bầu cử... Cho nên nguyên tắc bầu cử bình đẳng không phân biệt nam nữ mà các sắc lệnh về Tổng tuyển cử đầu tiên của nước ta đã quy định càng có ý nghĩa và giá trị tiến bộ, nhân văn sâu sắc hơn. Khi mà ở nước ta hàng nghìn năm dưới chế độ phong kiến với lễ giáo "tam tòng" [8], người phụ nữ không có địa vị gì, cả trong xã hội cũng như trong gia đình, nay được hưởng ngay quyền bầu cử, ứng cử như nam giới. Chính nguyên tắc bầu cử bình đẳng không phân biệt nam nữ này đã nâng địa vị người phụ nữ Việt Nam lên ngang hàng với nam giới và sánh vai cùng phụ nữ các nước có nền pháp lý dân chủ, văn minh, tiến bộ đương thời.

Để bảo đảm nguyên tắc bầu cử bình đẳng, pháp luật về Tổng tuyển cử quy định rõ: Mỗi cử tri chỉ được đi bầu một nơi hoặc ở nguyên quán, hoặc ở một nơi mà cử tri đã trú ngụ ít nhất là 3 tháng tính đến ngày bầu cử (Điều 17 SL 51). Đơn vị bầu cử được xác định là tỉnh hoặc thành phố [9], số đại biểu một tỉnh (hay thành phố) căn cứ vào dân số của tỉnh (hay thành phố) đó để ấn định và cử tri sẽ bầu thẳng các đại biểu trong một danh sách chung các ứng cử viên của tỉnh hay thành phố. Người ứng cử được tự do ứng cử nơi mình chọn lấy nhưng chỉ một nơi ấy thôi. Để bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, nếu người ứng cử nào ứng cử nhiều nơi hoặc khai gian những giấy chứng thực về điều kiện ứng cử sẽ bị phạt ...(Điều 7 - Điều 12 SL 51).

Những quy định này thể hiện triệt để nguyên tắc bầu cử bình đẳng, đặc biệt là quyền bình đẳng của những người ứng cử (dù là Chủ tịch Chính phủ lâm thời hay một công dân bình thường) trong việc tự mình lựa chọn một và chỉ một đơn vị bầu cử để ứng cử mà thôi [10]. Không ai có quyền sắp xếp, bố trí các ứng cử viên vào đơn vị bầu cử này hay đơn vị bầu cử khác và do vậy cũng không có ứng cử viên nào cảm thấy mình chỉ là người "lót đường" cho các ứng cử viên khác "sáng giá" hơn.

Nguyên tắc bầu cử trực tiếp được quy định trong sắc lệnh về Thể lệ Tổng tuyển cử rất cụ thể, rõ ràng chứ không phải chỉ quy định chung chung bằng cách nêu tên của nguyên tắc này. Vì Điều 31 Sắc lệnh số 51 về Thể lệ tổng tuyển cử quy định: "Mỗi cử tri phải thân hành đi bầu, không đượcủyquyền, cũng không được bầu bằng cách gửi thư". Chính những quy định cụ thể, rõ ràng này là một trong những lý do giải thích vì sao cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 nguyên tắc này đã được thực hiện một cách nghiêm túc. Ở những nơi tổ chức bầu cử khó khăn do thực dân Pháp và bọn Việt gian chống phá bầu cử, ngăn cản không cho cử tri đi bầu thì tỷ lệ cử tri tham gia bầu cử không cao, thậm chí có địa phương tỷ lệ cử tri tham gia bỏ phiếu chỉ đạt 65 - 75 % số người có quyền bầu cử.

Nguyên tắc bỏ phiếu kín cũng được quy định khá độc đáo và cụ thể để bảo đảm bí mật, an toàn và tự do ý chí của cử tri. Để giúp những cử tri không biết chữ thực hiện được quyền bầu cử, Sắc lệnh số 51 quy định: trước khi bắt đầu bỏ phiếu, sẽ lập một tiểu ban 3 người (một người của ban phụ trách cuộc bầu cử, hai người do dân làng, tỉnh lỵ (hay khu phố) cử ra viết giúp cho người đi bầu, một người viết, hai người kiểm tra. Khi viết xong, tiểu ban đó phải tuyên thệ trước mặt các người đi bầu rằng: viết đúng theo lời người đi bầu và giữ bí mật (Điều 36 – Điều 38 Sắc lệnh 51) v.v. Có thể khẳng định rằng những quy định của các sắc lệnh về Tổng tuyển cử đầu tiên của nước ta đã thể hiện rõ ràng, cụ thể và triệt để những nội dung, yêu cầu của các nguyên tắc bầu cử dân chủ và tiến bộ: nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.

Bốn là, các quy định của các sắc lệnh về Tổng tuyển cử đầu tiên của nước ta năm 1946 rất cụ thể, rõ ràng, ngắn gọn và dễ hiểu, dễ nhớ. Hầu hết những quy định này của các sắc lệnh là có hiệu lực trực tiếp, có thể thực hiện được ngay, không cần phải chờ đợi những văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành. Đây chính là điều kiện hết sức quan trọng bảo đảm cho pháp luật bầu cử sớm đi vào cuộc sống, để chúng ta có thể tổ chức được cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 sau hơn 4 tháng nước nhà giành được Độc lập.

2. Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6 tháng 1 năm 1946 thực sự tự do, thực sự dân chủ, thể hiện sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân quyết tâm bảo vệ nền độc lập và xây dựng chế độ mới - chế độ dân chủ cộng hòa

Xây dựng và ban hành các sắc lệnh về Tổng tuyển cử với những quy định tự do, dân chủ và tiến bộ như trên đã là khó và có ý nghĩa rất quan trọng. Nhưng tổ chức cuộc tổng tuyển cử sao cho thực sự tự do, thực sự dân chủ, biến các quy định của pháp luật bầu cử tự do, dân chủ đó thành hiện thực trong cuộc sống còn khó khăn hơn nhiều. Nhất là cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước ta được tổ chức khi mà thù trong, giặc ngoài đe dọa, chống phá, tình hình đất nước ở thế như "ngàn cân treo sợi tóc", hơn 90 % nhân dân bị mù chữ... mà cuộc tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 vẫn diễn ra thật sự tự do, thật sự dân chủ và thành công phải được coi như một kỳ tích và là một mốc son lịch sử của thể chế dân chủ ở Việt Nam. Vì: Ở miền Bắc, từ vĩ tuyến 16 trở ra, từ giữa tháng 9 năm 1945, gần 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch với danh nghĩa quân đồng minh tràn sang giải giáp quân Nhật, nhưng thực chất là cướp bóc và nuôi dưỡng, câu kết với các thế lực phản động, - đảng Việt Quốc, Việt Cách, để chống phá điên cuồng Tổng tuyển cử. Ngày ngày chúng ôm súng canh gác các đường, các chợ, dọa nạt cử tri, âm mưu bắt cóc, ám sát các ứng cử viên do Việt Minh giới thiệu. Ngay ở Hà Nội, chúng mang cả tiểu liên đến Ngũ Xá ngăn không cho đặt hòm phiếu, chúng cấm cả nhân dân treo cờ. Ở tỉnh Phú Thọ, đêm 4/1/1946, chúng cho người xuống nhà dân thu thẻ cử tri, sai người tháo dỡ khẩu hiệu, áp phích... Ngoài ra, nạn đói khủng khiếp do thực dân pháp và phát xít Nhật gây ra làm cho hơn 2 triệu đồng bào ta từ Quảng Trị trở ra Bắc bộ vẫn chưa dứt hẳn. Ở Miền Nam, từ vĩ tuyến 16 trở vào, quân đội Pháp được nửa vạn quân đội Anh yểm hộ đã quay trở lại đánh chiếm Sài Gòn và các tỉnh Nam bộ, cực nam Trung bộ và Tây Nguyên. Ở những nơi này, chúng dùng quân đội, cảnh sát, mật thám khủng bố nhân dân, cướp của, đốt nhà hòng ngăn cản tổ chức Tổng tuyển cử...[11]

Ngoài thù trong, giặc ngoài là "giặc dốt" với hơn 90 % đồng bào ta bị mù chữ, "là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị nhân dân ta" [12], cũng là kẻ thù gây không ít khó khăn trở ngại cho cuộc Tổng tuyển cử. Do trình độ dân trí chưa cao, hơn nữa đây lại là cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên chúng ta tiến hành phổ thông đầu phiếu, bầu cử ở tất cả các tỉnh, thành trong cả nước, nên nhân dân còn có nhiều bỡ ngỡ... Thật hiếm có cuộc bầu cử nào được tổ chức trong tình thế hiểm nghèo và những khó khăn chồng chất như cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên này.

Để cuộc Tổng tuyển cử thực sự dân chủ, công tác tuyên truyền, vận động bầu cử là rất quan trọng nhằm giúp cho người dân hiểu về mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của Tổng tuyển cử, về các quy định của pháp luật bầu cử... để động viên nhân dân đi bầu cử nhiều nhất, sớm nhất. Cuộc vận động và tuyên truyền về Tổng tuyển cử diễn ra sôi nổi và phong phú khắp cả nước. Các cơ quan thông tin đại chúng, nhất là các báo Cứu Quốc, Sự Thật giữ vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn, cổ vũ quần chúng, đấu tranh phê phán sự xuyên tạc của các lực lượng chính trị đối lập. Ðặc biệt, tờ Nhật báo Quốc hội, xuất bản ở Hà Nội, là tờ báo chỉ ra trong thời kỳ Tổng tuyển cử nhằm mục đích nêu rõ giá trị của cuộc Tổng tuyển cử, giới thiệu khả năng, thành tích và chương trình của những người ứng cử... Danh sách những người ứng cử ở các tỉnh, thành phố cũng được công bố công khai để nhân dân tự do tìm hiểu, lựa chọn khi bầu. Từ nhiều tháng trước ngày bầu cử, các cán bộ Việt Minh ở cấp cơ sở còn trực tiếp tuyên truyền, phổ biến đến nhân dân những kiến thức cơ bản nhất về Quốc hội, về quyền bầu cử, ứng cử của công dân. Cách tuyên truyền, vận động bầu cử cũng độc đáo, sáng tạo. Có nơi cán bộ phải ở cùng với dân cả khi làm đồng, cả khi xay lúa, lấy bèo, dạy chữ..., cả ngày cũng như đêm, giải thích đi, giải thích lại một cách cụ thể và dễ hiểu cho đồng bào về Quốc hội, về tầm quan trọng của Tổng tuyển cử, về quyền bầu cử, ứng cử ...của công dân. Cụ Nguyễn Văn Tố (nguyên là Chủ sự Trường Viễn đông bác cổ, đang là Bộ trưởng Chính phủ lâm thời), trả lời phỏng vấn của báo Cứu quốc về cảm tưởng của cụ trước cuộc Tổng tuyển cử khi đó cho biết: "Tôi vừa có dịp đi thăm nhiều vùng quê... Tôi ngạc nhiên nhận thấy dân trí của dân ta đã lên cao đến một bậc trước chưa dám mong được thế", "... ai cũng luôn nhắc đến chữ Độc lập và hiểu cái quyền của mình lắm và chắc hẳn là biết dùng cái quyền của mình một cách sáng suốt" [13]. Còn về sự chống phá, xuyên tạc của các thế lực chính trị phản động đối với cuộc Tổng tuyển cử, thì câu trả lời của ông Ngô Xuân Diệu (nhà thơ) cho báo này là rõ ràng: "Chính quyền của nhân dân, nhân dân sẽ giữ chặt lấy... Những bọn cố giật lại sẽ chỉ tự sát. Bánh xe lịch sử sẽ nghiến nát chúng. Rõ ràng là chó cứ sủa, đoàn người vẫn cứ đi” [14]. Giải thích lý do tại sao lại ra ứng cử, bác sỹ Tôn Thất Tùng cho biết: "Tôi lấy làm lạ cho thái độ lãnh đạm của một số anh em trí thức đối với cuộc Tổng tuyển cử này. Họ làm như việc của nước mình là việc của nước nào ấy. Tôi từ trước vẫn ở yên trong địa hạt chuyên môn của tôi, không tham dự gì vào đời sống chính trị, nhưng bây giờ tôi thấy phải có bổn phận phải ra ứng cử” để "có thể giúp ích đôi chút bằng công việc chuyên môn của tôi” và cũng chính là "muốn phản đối thái độ hờ hững, lạnh lùng của bọn trí thức nói trên” [15]... Điều này giải thích tại sao trong cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946, để bầu được 333 đại biểu đã có hàng nghìn người hăng hái tham gia ứng cử và ở mỗi đơn vị bầu cử số ứng cử viên nhiều hơn gấp nhiều lần số đại biểu được bầu. Ví dụ, ở tỉnh Quảng Nam được bầu 15 đại biểu nhưng có đến 78 người ứng cử [16]. Hay ở thành phố Hà Nội (nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh ứng cử) được bầu 6 đại biểu nhưng có 74 người ứng cử ở thành phố này [17]. Các ứng cử viên cũng có các hình thức tiếp xúc với cử tri và vận động bầu cử khác nhau. Ở một số địa phương, nhân dân còn nghĩ ra những bài ca, bài vè, câu đối ... để giới thiệu người ứng cử cho cử tri dễ nhớ tên các ứng cử viên cần bầu [18].

Ngày 5/1/1946, trong buổi lễ ra mắt ứng cử viên tổ chức tại Việt Nam học xá [19], hướng về các cử tri, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu: "Làm việc nước bây giờ là hy sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu. Ngày mai không ai ép, không ai mua, toàn dân sẽ thực hiện quyền dân chủ ấy".[20] Ngày 5-1-1946, trước Tổng tuyển cử một ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có lời kêu gọi toàn dân đi bỏ phiếu: "Ngày mai là một ngày đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ", "là ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu tận dụng, hưởng quyền dân chủ của mình... Ngày mai, dân ta sẽ tỏ cho các chiến sĩ ở miền Nam rằng: Về mặt trận quân sự, thì các chiến sĩ dùng súng đạn mà chống quân thù. Về mặt chính trị, thì nhân dân dùng lá phiếu mà chống với quân địch. Một lá phiếu cũng có sức lực như một viên đạn". Vì thế mà "Ngày mai, tất cả các bạn cử tri, đều phải nhớ đi bầu cử. Ngày mai, mỗi người đều nên vui vẻ hưởng quyền lợi của một người dân độc lập, tự do"[21].

Hưởng ứng lời hiệu triệu thiêng liêng của Hồ Chủ tịch, ngày 6-1-1946, với tinh thần yêu nước nồng nàn và khí thế hào hùng của Cách mạng Tháng Tám, nhân dân ta từ Bắc chí Nam, trên khắp mọi miền của Tổ quốc đã nô nức tham gia bầu cử, bất chấp sự phá hoại điên cuồng của các thế lực xâm lược và chống đối. Trong những vùng bị địch tạm chiếm đóng, nhân dân tập trung bỏ phiếu, quân Pháp kéo đến khủng bố, nhân dân phải mang thùng phiếu chạy đến một nơi khác và tiếp tục bỏ phiếu. Như ở xã Mỹ Hòa tỉnh Cần Thơ, trong ngày bầu cử, nhân dân phải di chuyển 4 lần đến 4 địa điểm khác nhau để hoàn thành việc bỏ phiếu. Hay như ở Buôn Krong tỉnh Đắk Lắk, nhân dân tập trung ở nhà già làng để bỏ phiếu, địch tới bao vây, nhân dân chạy sâu vào rừng, địch lại tấn công vào rừng, nhân dân đi sâu vào khe suối, mang theo cả gạo ăn để bỏ phiếu [22]. Ở tỉnh Phú Thọ, có cụ già hơn 80 tuổi đi bộ từ sáng đến tối, vượt qua cả cánh rừng để đến điểm bầu. Khi đến nơi cụ xòe tay ra, tờ thẻ cử tri nhàu nát vì cụ giữ nó quá chặt. Ở nhiều nơi, sau khi công khai kiểm tra thùng phiếu, hàng loạt thùng phiếu được khoan lỗ để bắt vít dính chặt xuống mặt bàn nhằm bảo vệ thùng phiếu, đề phòng kẻ gian cướp thùng phiếu [23]... Trong cuộc Tổng tuyển cử này đã có không ít những lá phiếu nhuốm máu cả người đi bầu, cả người tổ chức bầu cử. Ở Nha Trang, Mỹ Tho, Cần Thơ, Tân An, Tây Nguyên... quân đội Pháp đã ném bom, bắn phá, làm một số người chết và bị thương. Chỉ riêng ở Sài Gòn - Chợ Lớn đã có 42 cán bộ chiến sĩ hy sinh trong khi làm nhiệm vụ Tổng tuyển cử [24].

Từ trước đến nay, thật hiếm có cuộc bầu cử nào lại diễn ra như cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 ở nước ta. Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 đã thành công trên phạm vi cả nước, bất chấp sự phá hoại điên cuồng của bọn phản động ở phía Bắc và cuộc xâm lăng tàn bạo của thực dân Pháp ở phía Nam. Cụ thể là: tính chung cả nước, số cử tri tham gia bỏ phiếu là 89%, trong khi đó theo quy định của Điều 56 SL số 51 về Thể lệ Tổng tuyển cử, chỉ cần một phần tư (1/4) số cử tri có quyền bầu cử đi bầu thì cuộc bầu cử đã có giá trị. Cuộc Tổng tuyển cử đã bầu được 333 đại biểu, trong đó 57% số đại biểu thuộc các đảng phái yêu nước và cách mạng khác nhau, 43% không đảng phái, 10 đại biểu nữ, 34 đại biểu các dân tộc thiểu số [25].

Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên ngày 6/1/1946 đánh dấu bước phát triển nhảy vọt về thể chế dân chủ của nước ta. Người dân Việt Nam từ thân phận nô lệ của kiếp tôi đòi đã trở thành "chủ nhân ông" một nước tự do độc lập, đã khẳng định với thế giới rằng: nhân dân Việt Nam quyết tâm bảo vệ nền độc lập, có quyền và đã thực sự có đủ khả năng để tự quyết định vận mệnh lịch sử của mình, tự lựa chọn và dựng xây chế độ mới, chế độ Cộng hòa dân chủ nhân dân và hiện nay là CHXHCN Việt Nam.








[1] Xem: Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, T.4, tr. 8, tr. 133; Sắc lệnh số 14 ngày 8/9/1945 vềTổng tuyển cử để bầu Quốc dân đại hội.

[2] Dự thảo Hiến pháp này được soạn thảo bởi Ban dự thảo Hiến pháp gồm 7 người (Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì) thành lập theo Sắc lệnh ngày 20/9/1945, tháng 11/1945 Dự thảo Hiến pháp được công bố để lấy ý kiến nhân dân.

[3] Xem: Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Bác Hồ với Quốc hội và bản Hiến pháp đầu tiên của VNDCCH trong Hiến pháp năm 1946 và sự kế thừa, phát triển trong các Hiến pháp Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 1997, tr. 18; Lâm Quang Thự, - Người con đất Quảng. Nxb Đà Nẵng và Hội khoa học lịch sử TP. Đà Nẵng, 2005, tr. 179.

[4] Theo Điều 1 SL số 39 ngày 26/9/1945, Uỷ ban dự thảo thể lệ Tổng tuyển cử gồm có 9 vị đại biểu của Văn hóa, Thanh niên, công nhân, Nông dân và Phụ nữ cứu quốc là các Ông: Trần Huy Liệu, Vũ Đình Hòe, Cù Huy Cận, Nguyễn Mạnh Hà, Nguyễn Hữu Đặng, Lê Văn Giang, Nguyễn Văn Chức, Nguyễn Hữu Tiêu và Cô Tám Kinh.

[5] Điều 1 Sắc lệnh 51 ngày 17/10/1945 trước đây định tổ chức Tổng tuyển cử vào ngày 23/12/945.

[6] Xem: Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Sđd, tr. 8.

[7] Xem: Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, T.4, tr. 133.

[8] "Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử" được hiểu là người phụ nữ khi còn ở nhà phải phục tùng cha, lấy chồng thì phải theo chồng, chồng chết thì phải theo con.

[9] Theo Điều 8 SL 51,6 thành phố Hà Nội , Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Huế, Sài Gòn, Chợ Lớn cũng được xác định là những đơn vị bầu cử như các tỉnh.

[10] Theo cụ Lâm Quang Thự (đại biểu Quốc hội khoá I): Trong cuộc Tổng tuyển cử 6/1/1946, nhiều địa phương đồng bào viết thư đề nghị Hồ Chủ tịch không cần ra ứng cử ở một tỉnh nào, nhân dân cả nước sẽ bỏ phiếu cử Người vào Quốc hội, ai cũng muốn ghi tên Bác đầu tiên trên lá phiếu của mình. Hồ Chủ tịch đã viết một bức thư ngắn trả lời đề nghị này: "Tôi là một công dân của nước Việt Nam DCCH nên tôi không thể vượt qua khỏi thể lệ tổng tuyển cử đã định. Tôi ra ứng cử ở Hà Nội nên không thể ra ứng cử ở nơi nào khác". Xem: Lâm Quang Thự, Sđd, tr. 181.



[11] Xem: Lâm Quang Thự, Sđd, tr. 180; Dân chủ quá mới mẻ. Hồi ức của ông Nguyễn Thiện Ngữ, đại biểu Quốc hội khoá I , Báo Tuổi Trẻ điện tử, ngày7/01/2006.

[12] Xem: Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, T.4, tr. 8.

[13] Xem: Tờ Cứu quốc phỏng vấn ứng cử viên ĐBQH khoá đầu tiên. VietNamNet, 01/01/2006

[14] Xem: Tờ Cứu quốc phỏng vấn ứng cử viên ĐBQH khoá đầu tiên. VietNamNet, 01/01/2006.

[15]Xem: Tờ Cứu quốc phỏng vấn ứng cử viên ĐBQH khoá đầu tiên. VietNamNet, 01/01/2006.

[16]Xem: Lâm Quang Thự, Sđd, tr. 182.

[17]Xem: Lê Mậu Hãn, Cuộc tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946 - một mốc son lịch sử nhảy vọt về thể chế dân chủ. Báo Nhân dân, ngày 8/12/2005.

[18]Ví dụ, ở tỉnh Thừa Thiên được bầu 5 đại biểu, có bài giới thiệu về 5 người như sau: "Cách mạng Hoàng Anh, Học hành Trọng Tuyến, Công chánh Đăng Khoa, Cà sa Mật Thể, Y tế Kim Chi"; Hoặc ở tỉnh Quảng Nam được bầu 15 đại biểu trên tổng số 78 người ra ứng cử, có bài ca giới thiệu 14 người ứng cử (của Việt Minh) như: " Tổng tuyển cử đã tới rồi; Vì quyền, vì lợi mấy lời xin ghi; Trung bộ có anh Trần Đình Tri; Anh Lê Văn Hiến vậy thì đồng song; Phan Bôi một dạ một lòng; Anh Huỳnh Ngọc Huệ cũng dòng đấu tranh...; Đồng bào thận trọng lá thăm". Xem: Lâm Quang Thự , Sđd, tr. 181-182.

[19] Nay là Trường Đại học Bách khoa Hà Nội.

[20] Hồ Chí Minh, Sđd, T.4, tr. 147.

[21] Hồ Chí Minh, Sđd, T.4, tr. 145

[22] Xem: Lâm Quang Thự , Sđd, tr. 180.

[23] Xem Hồi ức của ông Nguyễn Thiện Ngữ..., Báo Tuổi Trẻ, ngày7/01/2006.

[24] Trích Bài phát biểu của ông Nguyễn Minh Triết, Bí thư Thành ủy, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội TP. HCM tại buổi họp mặt các thế hệ đại biểu Quốc hội kỷ niệm 60 năm Quốc hội VN tổ chức ngày 3/1/2006 tại TP.Hồ Chí Minh

[25] Xem: PGS. Lê Mậu Hãn. Cuộc tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946 - một mốc son lịch sử nhảy vọt về thể chế dân chủ, Báo Nhân dân, ngày 8-12-2005

16:55 | Posted in , | Read More »