SUY NGHĨ VỀ HỌC THUYẾT PHÁP LÝ VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY


Tác giả: TRẦN THÁI DƯƠNG*
TS. Đại học Luật Hà Nội 
Tạp chí Khoa học pháp lý, Số 1/2006, 
truy cập tại đây 

Là hệ thống các quan điểm lí luận khoa học hoàn chỉnh về những vấn đề nhà nước và pháp luật, học thuyết pháp lí biểu hiện ở cấp độ cao của ý thức pháp luật, tức là những ý niệm của con người về hệ thống các thể chế và thiết chế nhà nước.
Về mặt cấu trúc, học thuyết pháp lí gồm các khái niệm, phạm trù, quy luật vận động khách quan, những mối liên hệ phổ biến về các hiện tượng nhà nước và pháp luật. Học thuyết pháp lí có thể luận giải về nhà nước và pháp luật đã qua, nhà nước và pháp luật đang tồn tại hay chủ trương, kiến giải về mô hình nhà nước và pháp luật trong tương lai.

Tùy theo mỗi cách phân chia với mục tiêu nhất định, học thuyết pháp lí có các loại khác nhau. Ở mức độ khái quát, qua tiến trình lịch sử phát triển của các chế độ xã hội có giai cấp, có nhà nước và pháp luật, khi khoa học hình thành, các quan điểm của các nhà triết học về đời sống chính trị, về nhà nước và pháp luật đã xuất hiện. Đến khi các quan điểm, tư tưởng đó chín muồi thì hình thành nên các học thuyết chính trị - pháp lí. Sau này, với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của khoa học, luật học (khoa học pháp lí) đã tách thành ngành khoa học độc lập, học thuyết pháp lí giữ vai trò trung tâm, quyết định sự tồn tại và phát triển của luật học với tư cách là ngành khoa học trong hệ thống các khoa học xã hội và nhân văn. Bên cạnh các học thuyết chính trị - pháp lí, về nhà nước và pháp luật nói chung, lúc này những học thuyết về các vấn đề cụ thể như tổ chức bộ máy nhà nước về điều chỉnh pháp luật, các mô hình pháp luật đã được hình thành và phát triển.

Sự phân chia các học thuyết pháp lí thành các học thuyết chung gắn liền với các vấn đề chính trị và các học thuyết về từng lĩnh vực pháp luật chỉ có tính tương đối vì giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ hữu cơ không thể tách rời. Trên thực tế, chính trị và pháp luật là những hình thái ý thức xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng; chính trị là linh hồn của pháp luật, không có pháp luật nào phi chính trị hay chỉ là những vấn đề chuyên môn kĩ thuật thuần tuý. Ngược lại không có nền chính trị hay xu hướng chính trị nào lại không hướng tới vấn đề chính quyền và luật pháp. Nói như vậy cũng để thấy rằng các học thuyết pháp lí không đơn thuần là những lí thuyết về kĩ thuật pháp luật mà chúng luôn luôn thể hiện những vấn đề lợi ích giai cấp; thể hiện lập trường, thế giới quan và nhân sinh quan chính trị sâu sắc.

Học thuyết pháp lí với ý nghĩa là hệ thống các quan điểm, các phạm trù, khái niệm, các nguyên tắc, các quy luật và mối liên hệ có tính phổ biến giữa các hiện tượng nhà nước và pháp luật chỉ được hình thành và phát triển trên cơ sở hoạt động có tính đặc thù là hoạt động nhận thức tư duy khoa học. Hoạt động thực tiễn về nhà nước và pháp luật đã có từ trước đó, các quan điểm nhận thức có tính đơn lẻ về nhà nước và pháp luật cũng đã xuất hiện nhưng chỉ đến khi hoạt động tư duy lí luận có tính chuyên nghiệp xuất hiện thì mới xuất hiện các học thuyết khoa học nói chung và học thuyết pháp lí nói riêng.

Từ thời Cổ đại, trên thế giới đã hình thành những học thuyết chính trị - pháp lí nổi tiếng, xuất hiện những trường phái khoa học khác nhau về cùng vấn đề của hiện thực khách quan trong xã hội, đó là nhà nước và pháp luật. Những học thuyết nổi tiếng mà cho đến nay người ta vẫn còn suy ngẫm và kiểm nghiệm như thuyết pháp trị và thuyết đức trị ở Trung Quốc thời cổ.

Nhìn chung, các học thuyết pháp lí Cổ đại đã có nhiều đóng góp quan trọng, đặt nền móng cho sự tiếp tục phát triển của luật học thế giới sau này. Có những tư tưởng, quan điểm của các học giả thời đó đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Vượt qua đêm trường Trung cổ, chuẩn bị cho cuộc cách mạng dân chủ tư sản lật đổ chế độ phong kiến thiết lập kiểu nhà nước tư sản, nhiều học thuyết chính trị - pháp lí ra đời với những nội dung rất phong phú đã mang lại cho nền luật học thế giới những bước tiến vượt bậc. Chẳng hạn: thuyết pháp quyền tự nhiên, thuyết khế ước xã hội, thuyết phân quyền...

Trên cơ sở tổng kết những thành tựu khoa học của thế giới, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã đưa ra học thưyết khoa học, cách mạng nhất về nhà nước và pháp luật. Học thuyết Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật đem lại một cách nhìn toàn diện, khách quan, biện chứng và duy vật về những vấn đề chung như nguồn gốc, bản chất, vai trò, chức năng của các kiểu nhà nước trong lịch sử và đặc biệt là đối với nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa - kiểu nhà nước và pháp luật tiến bộ nhất và là cuối cùng trong lịch sử loài người. Học thuyết Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật là cơ sở phương pháp luận cho việc hình thành các học thuyết pháp lí xã hội chủ nghĩa.

Trên cơ sở học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối chính trị của Đảng cộng sản Việt Nam, các học thuyết pháp lí ở nước ta cũng được hình thành. So với các lĩnh vực khoa học khác, luật học là một ngành khoa học còn rất non trẻ đối với Việt Nam. Ngoại trừ một số ít các nhà luật học được đào tạo dưới chế độ thực dân Pháp, đa số các nhà khoa học pháp lí nước ta được đào tạo ở Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa khác như Cộng hoà dân chủ Đức, Ba Lan... Bước vào thời kì đổi mới với chính sách đối ngoại đa phương hoá, đa dạng hoá, nước ta đã cử hàng loạt sinh viên và nghiên cứu sinh đi đào tạo nghiên cứu, học tập ở nhiều nước trên thế giới về các lĩnh vực khoa học, trong đó có lĩnh vực luật học. Đến nay, đội ngũ các nhà khoa học pháp lí của Việt Nam tương đối đa dạng và đang trưởng thành nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền, xây dựng nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Nhìn chung nền khoa học pháp lí Việt Nam trong mấy chục năm qua có đặc điểm nổi bật nhất là chịu ảnh hưởng sâu sắc của khoa học pháp lí nước ngoài: Trước đó thì chịu ảnh hưởng của hệ thống khoa học pháp lí Pháp và châu Âu lục địa, về sau chịu ảnh hưởng của hệ thống khoa học pháp lí Liên Xô. Xu hướng hiện nay của khoa học pháp lí Việt Nam là vận dụng học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, tiếp thu các giá trị chung của nền văn minh nhân loại đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam.

Học thuyết pháp lí không phải là các quan điểm, tư tưởng đơn lẻ hay các chủ trương, chính sách của lực lượng cầm quyền về nhà nước và pháp luật, nó chỉ được hình thành trên cơ sở hoạt động tư duy lí luận một cách có hệ thống do các nhà khoa học thực hiện. Nói cách khác, học thuyết pháp lí là sản phẩm của quá trình nhận thức khoa học sáng tạo về hiện thực xã hội, nó không phải đơn thuần là sản phẩm của ý chí hay lòng mong muốn. Do vậy, không có hoạt động khoa học một cách tự do, dân chủ thì cũng không có sự tồn tại của các học thuyết pháp lí.

Học thuyết pháp lí không phải là sản phẩm chỉ có ý nghĩa kinh viện, nó có ảnh hưởng rất lớn đến thực tiễn nhà nước và pháp luật. Giới quyền lực bao giờ cũng chịu ảnh hưởng của những quan niệm học thuyết pháp lí nhất định và từ đó hình thành trước những ý niệm về một nhà nước và hệ thống pháp luật cần phải có. Thực tế cũng đã chứng minh rằng không có hệ thống pháp luật nước nào có thể đầy đủ hoàn toàn để điều chỉnh mọi quan hệ xã hội cần được điều chỉnh. Học thuyết pháp lí không chỉ ảnh hưởng đến việc hình thành một hệ thống pháp luật cụ thể về cơ cấu, về mục đích, nguyên tắc, phương thức điều chỉnh... mà còn đem lại những hiểu biết chung, những quan niệm về các giá trị của công bằng, dân chủ, tiến bộ... từ đó mà ảnh hưởng đến các quyết định lập pháp, những phán quyết của cơ quan nhà nước trong quá trình áp dụng pháp luật.

Học thuyết pháp lí cũng có vai trò to lớn đối với công tác giáo dục nâng cao ý thức pháp luật trong các tầng lớp nhân dân. Các vấn đề nhà nước và pháp luật được trình bày dưới dạng hệ thống tri thức khoa học có tính thuyết phục cao, qua đó thấm sâu vào suy nghĩ, biến thành nếp tư duy và hành động của người dân.

Với vai trò và giá trị như vậy, học thuyết pháp lí không chỉ có ý nghĩa học thuật, nó còn góp phần bổ sung và hỗ trợ tích cực cho hệ thống các quy phạm pháp luật. Ngày nay, nếu quan niệm đầy đủ và thực tế về nguồn luật thì cần phải thừa nhận vai trò không nhỏ của các học thuyết pháp lí.

Ở Việt Nam, từ trước, chúng ta không thừa nhận học thuyết pháp lí có giá trị bổ sung trực tiếp cho hệ thống các quy định pháp luật thực định, thường chúng chỉ được sử dụng có tính chất tham khảo trong giảng dạy, nghiên cứu ở các trường đại học, viện khoa học và nhiều khi mang tính kinh viện, ít được coi trọng đúng mức. Tuy nhiên, trên thực tế ở Việt Nam, học thuyết pháp lí có ảnh hưởng một cách gián tiếp theo cả hai chiều (tích cực và tiêu cực) đến quá trình hình thành, phát triển của hệ thống pháp luật và hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước (cũng trên cơ sở các quy định của pháp luật). Chẳng hạn, do ảnh hưởng của nhận thức cứng nhắc đối với quan điểm học thuyết về bản chất, phương thức tổ chức bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa theo kiểu “nửa nhà nước”, trong thời kì kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, hệ thống các cơ quan nhà nước đã được tổ chức triển khai sâu rộng đến nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, thậm chí bao trùm và che lấp hầu hết các thiết chế của đời sống xã hội dân sự.

Trong tổ chức quản lí nền kinh tế trước đây, với ảnh hưởng của thuyết “quản lí theo chức năng” (tức là nền kinh tế càng được phân chia thành nhiều ngành thì số cơ quan nhà nước cũng phải phình to ra, nếu không thì quản lí không xuể),[1] bộ máy nhà nước cũng được tổ chức một cách cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian. Đối với hệ thống pháp luật, do ảnh hưởng của quan điểm học thuyết pháp lí của các nước xã hội chủ nghĩa nên hệ thống pháp luật Việt Nam cũng mang những điểm riêng. Chẳng hạn, sự không tồn tại của Luật Lao động với tư cách là ngành luật độc lập (thực chất là một bộ phận trong ngành luật hành chính) do không tồn tại các quan hệ trao đổi hàng hóa sức lao động.

Học thuyết pháp lí có vai trò tích cực trong định hướng hành động khi áp dụng pháp luật, chẳng hạn lí thuyết về cấu thành tội phạm có ý nghĩa thực tiễn rất to lớn đối với các cơ quan tư pháp nước ta, nhất là trong thời kì nước ta chưa có Bộ luật Hình sự.

Nhũng thời đại kinh tế đã qua cũng chấm dứt vai trò của một số loại học thuyết pháp lí nhất định. Chẳng hạn, học thuyết của Laptev ở Liên Xô trước đây về mô hình ngành luật kinh tế điều chỉnh các quan hệ kinh tế kế hoạch hóa, về hợp đồng kinh tế, về quyền quản lí nghiệp vụ của các xí nghiệp, về hạch toán kinh tế trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung ở nước ta... Những học thuyết về vai trò, chức năng kinh tế của nhà nước xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế kế hoạch hóa, trong đó biến nhà nước trở thành kiểu nhà nước “toàn trị”[2] như thuyết “về tính cần thiết”, “thuyết phân công chức năng”.[3]

Chuyển sang nền kinh tế thị trường, chúng ta phải chuyển đổi tổ chức bộ máy, phương thức hoạt động của nhà nước và xây dựng hệ thống pháp luật với những nội dung và vai trò khác so với thời kì kế hoạch hóa tập trung bao cấp. Hoạt động xây dựng nhà nước và hệ thống pháp luật ở nước ta hiện nay cần dựa trên những quan niệm mới theo hướng hội nhập quốc tế. Nền học lí pháp luật Việt Nam hiện nay cần phải được hình thành, thậm chí phải đi trước một bước để định hướng về lí luận khoa học cho việc triển khai các quan điểm đường lối chính trị của Đảng. Có thể nói, đây là điểm yếu cần phải khắc phục của khoa học pháp lí Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, có thể nói rằng trong quá trình hội nhập quốc tế, chúng ta cũng cần tránh xu hướng du nhập một cách rập khuôn máy móc các học lí pháp luật nước ngoài vì điều đó không phải lúc nào cũng đem lại sự tương thích với điều kiện kinh tế - xã hội và truyền thống văn hoá Việt Nam. Việc tiếp thu và giao thoa giữa các nền văn hóa trên thế giới là điều khách quan nhưng nền học lí pháp luật Việt Nam ngày nay vẫn cần phải căn bản dựa trên nền tảng truyền thống dân tộc Việt. Mặc dù vậy, cần phải chú ý một thực tế lịch sử rằng Việt Nam không phải là cái nôi sản sinh hay khởi phát ra các học thuyết nói chung mà chỉ tiếp thu, chọn lọc và phát triển nó trong quá trình ứng dụng cho phù hợp với hoàn cảnh của đất nước và con người Việt Nam. Theo tôi, làm tốt được điều đó cũng đã có tác dụng to lớn và rất đáng tự hào rồi. 

[1] Trương Văn Bân (chủ biên), Bàn về cải cách toàn diện doanh nghiệp nhà nước, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; tr. 457.

2 PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa, Từ nhà nước toàn trị tới thời đại dân doanh , Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 8/2005; tr. 3.

3 Trương Văn Bân (chủ biên), Sđd; tr. 457.

17:27 | Posted in , | Read More »

KHI PHÁP LUẬT LÀ HIỆN THÂN CỦA CÔNG LÝ

Nguyễn Minh Tuấn
Nguồn: Tạp chí Tia sáng

Nếu chỉ thuần túy coi văn bản quy phạm pháp luật mới là nguồn duy nhất của pháp luật và chính thức ở nước ta hiện nay, thì giữa pháp luật và cuộc sống sẽ mãi mãi là những khoảng cách vô hình và khoảng cách ấy sẽ càng xa mới tiến tới một xã hội dân bản, nếu như những quy phạm pháp luật không mang trong nó hơi thở từ cuộc sống, giá trị của niềm tin ở người dân vào luật pháp, vào cơ quan công quyền.



I. Quan niệm về Nguồn của pháp luật


Về mặt lý luận phần lớn ở nước ta vẫn quan niệm nguồn của pháp luật (hình thức bên ngoài của pháp luật) là dạng tồn tại thực tế của các qui phạm pháp luật, là sự thể hiện ra bên ngoài, là những gì chứa đựng các qui phạm pháp luật1). Do đó lâu nay về mặt lý luận đa phần cũng vẫn chỉ thừa nhận một loại nguồn duy nhất của pháp luật là các văn bản qui phạm pháp luật do nhà nước ban hành2). Bởi vậy từ lâu đã hình thành suy nghĩ rằng pháp luật theo nghĩa rộng là các văn bản qui phạm pháp luật. Cách hiểu như vậy về nguồn của pháp luật là quá hẹp vì vậy nó mâu thuẫn ngay với định nghĩa về pháp luật khi cho rằng pháp luật là tổng thể các qui tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển3). Những qui tắc xử xự do nhà nước thừa nhận là gì? chắc chắn đó không giản đơn là những qui phạm thuần tuý do nhà nước đặt ra, mà đó phải là những “chỗ khuyết” mà các qui phạm do nhà nước ban hành không có khả năng điều chỉnh hết được nhưng vẫn được nhà nước chấp nhận về mặt pháp lý và được áp dụng trong những trường hợp, tình huống cụ thể. 
Mặc dù là công cụ quan trọng nhất để điều chỉnh hành vi con người nhưng pháp luật nếu hiểu theo nghĩa là những văn bản qui phạm pháp luật thuần tuý thì luôn chứa đựng những điểm yếu:
Thứ nhất, văn bản qui phạm pháp luật nói chung thường có tính khái quát hoá cao. Mỗi một tình huống, một trường hợp khác nhau, với những điều kiện về thời gian, không gian, môi trường sống khác nhau khi đó tính chất, mức độ của các quan hệ pháp luật cũng khác nhau, nên luật pháp chỉ qui định những qui tắc chung, chứ không đi vào từng trường hợp cụ thể. Có lẽ đây vừa là điểm mạnh cũng vừa là điểm yếu nhất của luật, một mặt tính khái quát hoá cao sẽ làm cho luật pháp có tính chặt chẽ, hệ thống nhưng cũng dễ làm cho nó trở nên cứng nhắc, khuôn sáo, nhất là khi mà thực tiễn thường xuyên thay đổi, luật pháp cũng luôn phải hối hả chạy theo sau thực tiễn để sửa đổi, bổ sung.
Thứ hai, những qui phạm pháp luật cũng bị chi phối bởi rất nhiều các yếu tố với mức độ phổ quát khác nhau, đặc biệt là yếu tố chủ quan

Tính chủ quan của luật có cả trong giai đoạn xây dựng, ban hành các văn bản qui phạm pháp luật đến giai đoạn thực hiện pháp luật, xuất hiện quan hệ pháp luật và hành vi thực hiện quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể. Luật suy cho cùng không phải bao giờ cũng là chân lý, mà chỉ là những gì nhà làm luật cho đó là sự thật, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của từng quốc gia; tiếp đến khi thực hiện, lại một lần nữa luật pháp phụ thuộc vào ý chí chủ quan của chủ thể thực hiện pháp luật trong đó có cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền và của công dân. Chưa hết, thực tế luật pháp còn bị các yếu tố khách quan khác như điều kiện kinh tế, điều kiện tự nhiên, phong tục, tập quán, truyền thống lịch sử… chi phối, những yếu tố này trong nhiều trường hợp cụ thể còn là yếu tố quyết định cả tính chất, nội dung của pháp luật.

II. Một cách tiếp cận khác về nguồn của pháp luật

Khái niệm nguồn của pháp luật (sources of law) là một thuật ngữ pháp lý phức tạp có nhiều cách hiểu khác nhau, tuỳ từng hệ thống pháp luật mà từ lý luận đến thực tiễn sẽ xuất hiện ngoại diên rộng hẹp khác nhau của khái niệm này.

Đối với hệ thống pháp luật Anh – Mỹ (Common Law) thì trong trường hợp không có luật thành văn, không có án lệ, không có tập quán điều chỉnh để giải quyết một vấn đề, thẩm phán hoàn toàn có quyền sáng tạo ra pháp luật – cụ thể là thẩm phán có quyền sử dụng lẽ phải (reasons). Lẽ phải có thể được thể hiện bằng cách viện dẫn tập quán không có giá trị bắt buộc hoặc viện dẫn bản án không phải là án lệ; viện dẫn pháp luật nước ngoài... với tư cách là một nguồn luật chính thức để giải quyết. Tại Anh quốc hiện nay, một quốc gia điển hình của hệ thống pháp luật Anh - Mỹ, bên cạnh common law (thông luật) gắn với pháp luật tố tụng, quốc gia này còn sử dụng equity law (hay còn gọi là luật công bình) như một cấu thành quan trọng trong hệ thống pháp luật của quốc gia này4), ở đó cơ sở pháp lý để giải quyết các vụ việc là phụ thuộc hoàn toàn vào thẩm phán trên cơ sở đạo đức và lương tâm. Các giải pháp equity law đưa ra thường rất mềm dẻo, vì nó hàm chứa trong từng phán quyết đó là thước đo của trí tuệ, đạo đức và lương tâm của người thẩm phán, người thẩm phán của equity law chỉ can thiệp nếu hành động của bị đơn bị coi là trái lương tâm. Về mặt thủ tục thẩm phán equity law có thể sử dụng các biện pháp đặc biệt, có thể ra lệnh cho một bên xuất trình tư liệu bằng một lệnh đặc biệt, gọi là discovery order để yêu cầu bên đó đưa ra những chứng cứ của mình. 
Các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có nước ta, hầu như không thừa nhận tập quán pháp và tiền lệ pháp mà chỉ thừa nhận văn bản qui phạm pháp luật là nguồn chủ yếu5). Chỉ đến năm 1995 khi Bộ luật dân sự được ban hành và có hiệu lực, tại Điều 14 nhà nước ta đã qui định rằng trong việc giải quyết các vụ án dân sự khi pháp luật không qui định và các bên không có thoả thuận, thì có thể áp dụng tập quán hoặc qui định tương tự của pháp luật với điều kiện không trái với các nguyên tắc chung được qui định trong Bộ luật dân sự6)

Tập quán rất đa dạng và phong phú, cho nên việc áp dụng tập quán dù sao cũng chỉ qui định được về mặt nguyên tắc và đường lối giải quyết. Thực tế ở nước ta có một loại nguồn pháp luật rất đặc thù đó là hương ước – sản phẩm của chế độ làng xã tự trị, vốn đã tồn tại từ rất lâu nhưng ít được nhắc đến như một dạng nguồn của pháp luật. Hương ước được xây dựng trên cơ sở tập quán của làng, xã, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thừa nhận và thể hiện dưới hình thức văn bản. Như vậy, về mặt nguyên tắc hương ước tuy bắt nguồn từ tập quán nhưng thực tế nó đã được “qui phạm hoá” và trở thành qui tắc xử sự chung của làng xã.


Về án lệ, lâu nay mặc dù không thừa nhận án lệ với tư cách là một loại nguồn chính thức nhưng thực tế những biến dạng của án lệ đang ngự trị và chiếm một vị trí khá quan trọng đặc biệt trong hoạt động xét xử của toà án. Các toà án địa phương vẫn dựa trên các hướng dẫn, các báo cáo tổng kết của Toà án nhân dân tối cao để giải quyết các vụ việc tương tự, là giải pháp khá hiệu quả khi chưa có luật điều chỉnh. Mặc dù không được chính thức hoá thừa nhận nhưng thực tế án lệ vẫn đi theo con đường riêng của nó.

Một vụ án trước công đường, muốn chứng minh một vấn đề đòi hỏi phải có được những chứng cứ. Điều buồn phiền là không phải lúc nào cũng có thể dễ dàng thu thập và có được chứng cứ xác thực, nhiều trường hợp biết rõ là đương sự là người bị hại, ngay tình nhưng không có đủ chứng cứ để bảo vệ. Góc khuất và điểm yếu của luật dễ dàng được bộc lộ khi mà luật pháp không bảo vệ được người ngay tình, kể cả khi đã có sừng sững hẳn một “rừng luật” là các văn bản qui phạm pháp luật do nhà nước ban hành, thậm chí nhiều qui định ràng buộc của luật thủ tục nhiều khi còn là sợi dây trói trong quá trình tìm ra sự thật khách quan của vụ án đó. Khi nào luật pháp mới có thể thực sự là chốn nương thân của con người, là nơi mà người dân đặt niềm tin vào công lý? Ai sẽ bảo vệ những người công dân nhỏ bé ấy nếu không phải là người thẩm phán trước công đường ? Nên chăng phải mở rộng hơn thẩm quyền của thẩm phán, cho phép thẩm phán có thể bằng tư duy lôgích, tư duy phân tích, lương tâm và bản lĩnh nghề nghiệp, và đặc biệt là vào lẽ phải, lẽ công bằng7) để bảo vệ được tối đa lợi ích của người bị hại.
Qua cách tiếp cận như vậy có thể thấy nếu chỉ thuần tuý coi văn bản qui phạm pháp luật mới là nguồn duy nhất và chính thức ở nước ta hiện nay, thì giữa pháp luật và cuộc sống sẽ mãi vẫn là những khoảng cách vô hình, và khoảng cách ấy sẽ càng xa mới tiến tới một xã hội dân bản, nếu như những qui phạm pháp luật không mang trong nó hơi thở từ cuộc sống, giá trị của niềm tin ở người dân vào luật pháp, vào cơ quan công quyền. Cũng với một không gian “hẹp hòi” đó, nếu luật pháp cũng “vô tình”, người cầm cân nảy mực cũng “vô tình” thì sao luật pháp có thể là xứng đáng là hiện thân của công lý, làm thước đo bảo vệ cho lẽ phải8). Chỉ khi nào một phán quyết của thẩm phán xuất phát từ trái tim nhân hậu, một lương tâm nghề nghiệp đúng, thì lúc đó luật pháp mới trở về với nghĩa đầy đủ nhất của nó, chứ không thể chỉ là hoạt động thuần tuý, giản đơn áp dụng các văn bản qui phạm pháp luật đã có sẵn. Có lẽ cái cao cả, khó khăn và đáng quí ở người thẩm phán theo tôi cũng là ở chỗ đó. Chúng tôi cũng đồng tình với các tác giả Nguyễn Sĩ Dũng và Nguyễn Đức Lam trong bài “Khắc phục tình trạng xử kiểu gì cũng được" in trong sách "Một góc nhìn của trí thức" khi thừa nhận pháp luật theo nghĩa rộng cần phải bao gồm cả những nguồn khác như: tập quán, thực tiễn toà án, học thuyết, quan điểm khoa học, các nguyên tắc chung v.v...9) 

Trong giai đoạn hiện nay, khi mà xu hướng hội nhập kinh tế - quốc tế nhằm thiết lập một không gian kinh tế chung đang diễn ra một cách khẩn trương, thì cũng đòi hỏi phải có cách hiểu về nguồn của luật, hay “ngoại diên” của hai từ pháp luật một cách thống nhất. Theo chúng tôi, nguồn của pháp luật cần phải được hiểu là tất cả những căn cứ đảm bảo yêu cầu hợp pháp và hợp lý mà trên cơ sở đó cơ quan hoặc người có thẩm quyền dựa vào để giải quyết trọn vẹn một tình huống, một vấn đề cụ thể.

III. Đôi lời bàn luận

Luật pháp từ khi ra đời và trở thành những qui tắc chung được mọi người thừa nhận cũng có “đời sống” riêng của nó, luật pháp cũng cần phải được soi rọi vào thực tiễn để kiểm nghiệm. Điểm khởi đầu và cũng là điểm kết thúc của luật pháp ở mức độ cao hơn bao giờ cũng là thực tiễn của cuộc sống. Những qui phạm pháp luật ra đời sẽ không thể đi vào cuộc sống nếu nó không xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn và không trả lời được những câu hỏi bức xúc từ thực tiễn đặt ra. Vậy nên mới có nhận định rằng, có những văn bản luật chứa đựng các qui phạm do nhà nước ban hành, điều đó ai cũng biết, nhưng trong cuộc sống lại có một loại luật khác có phạm vi rộng hơn, cao hơn thế Luật của cuộc sống - Luật nhân danh lương tri và phẩm giá của con người mà đấu tranh vì con người, bảo vệ lẽ phải thì chưa hẳn ai cũng biết và dũng cảm để đấu tranh cho nó. Phải chăng luật của cuộc sống, của đạo đức và lương tâm đó mới là thước đo cần và đủ để hiểu trọn vẹn hai từ pháp luật.


Chú thích


1) Tập thể tác giả, (Nguyễn Cửu Việt - chủ biên), Giáo trình Lý luận chung nhà nước và pháp luật, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà nội, 2003, tr 219.
2) Tập thể tác giả, (Nguyễn Cửu Việt - chủ biên), Giáo trình Nhà nước và pháp luật đại cương, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà nội, 2000, tr. 120.
3) Xem Tập thể tác giả, Nguyễn Cửu Việt (chủ biên), Giáo trình nhà nước và pháp luật đại cương, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà nội, 2003, tr. 84;
4) Xem thêm Michael Bogdan, Luật so sánh, (bản dịch của PGS, TS. Lê Hồng Hạnh; ThS. Dương Thị Hiền), tr.84.
5) Ở nước ta các văn bản như Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư luôn được coi là văn bản qui phạm pháp luật vì chúng luôn luôn chứa đựng các qui phạm mang tính bắt buộc chung; Các loại văn bản khác như Nghị quyết, chỉ thị v.v...có thể chứa qui phạm hoặc không;
6) Xem Điều 14, Bộ luật dân sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia Hà nội, 1995.
7) Xem thêm bài viết “Lương tâm của người thẩm phán” của PGS, TS. Nguyễn Đăng Dung trên tạp chí Tia sáng, số 23, tháng 12/2003; Bài viết “Vai trò của thẩm phán trước yêu cầu cải cách tư pháp” của tác giả Nguyễn Minh Tuấn trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 9/2003.
8) Xem thêm Vụ tranh chấp nhà và đất tại số 8B Võ Thị Sáu - Nha Trang, Bị đơn đập đầu tại toà, Vì sao? (Báo Pháp luật thứ ba ngày 11 tháng 6 năm 2002); Xem " Vụ vận chuyển trái phép 189.000 USD: Toà xử sai, ai "xử" toà?, Báo pháp luật số 116 (1646), ngày thứ tư 15/5/2002; Xem "Người đàn bà mười năm miệt mài đi tìm sự thật: Vụ án chiếc téc dầu bị thủng", Báo pháp luật số 107 (1950) thứ hai ngày 5/5/2003.
9) Nguyễn Sĩ Dũng và Nguyễn Đức Lam. Khắc phục tình trạng "Xử kiểu gì cũng được" in trong sách "Một góc nhìn của trí thức". Tập 3. tr.38.

18:01 | Posted in , | Read More »

LUẬT PHÁP CẦN, RẤT CẦN NHƯNG CHƯA ĐỦ

 


Nguyễn Minh Tuấn
Nguồn: Chuyên mục Thư Hà nội, Báo điện tử Vietnamnet
Đăng ngày 2/11/2006
Sự cần thiết, tối cần thiết của luật pháp là điều hiển nhiên. Nhưng còn những yếu tố hỗ trợ khác nữa cũng không kém phần hữu hiệu trong việc điều chỉnh hành vi con người, cộng đồng và quản lý đất nước.
Quốc hội đang giành phần lớn thời gian để xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống luật pháp của Việt Nam. Đó là quá trình tất yếu của một đất nước đang tiến lên văn minh và hiện đại, đang vươn tới một trình độ cao hơn trong lịch sử phát triển của dân tộc. Nhưng sẽ là không đầy đủ, nếu quên đi sự hỗ trợ của những yếu tố khác. Những yếu tố này cũng không kém phần quan trọng.

Pháp luật - Ba điểm mạnh

Có lẽ sẽ không cần bàn cãi nữa về tầm quan trọng của pháp luật đối với sự duy trì và phát triển của một xã hội, một đất nước. Vai trò đó dựa vào ba điểm mạnh sau đây của bản thân pháp luật:
Đó là tính bắt buộc chung. Bất kì ai khi đặt vào tình huống, hoàn cảnh pháp luật qui định không thể xử sự khác được.


Đó là tính minh bạch. Pháp luật được xác định chặt chẽ, ổn định, có thể tiên liệu, dự đoán trước.


Đó là tính được đảm bảo thực hiện bởi nhà nước. Nhờ có cơ quan công quyền tiến hành tổ chức đưa pháp luật vào cuộc sống và xử lí vi phạm, nên pháp luật đã xứng đáng xếp vào vị trí là công cụ hiệu năng nhất để nhà nước quản lí xã hội.
 
Song lâu nay có lẽ cũng vì quá đề cao, nhấn mạnh, thậm chí tuyệt đối hoá pháp luật, đôi khi người ta quên mất rằng pháp luật tự thân nó cũng hàm chứa không ít những điểm yếu và cần thiết phải được bổ khuyết.

Pháp luật – Ba điểm yếu

Chúng tôi muốn đi sâu hơn những điểm yếu cố hữu của pháp luật, đó là tính chủ quan, sự khái quát hoá quá cao, và tính dễ bị lạc hậu so với sự đổi thay nhanh chóng của cuộc sống.

Tính chủ quan. Ai cũng thấy các quy định của pháp luật rất đa dạng và khác nhau. Chẳng hạn, ở nước ta quy định cho mọi phương tiện giao thông đi phía tay phải, trong khi ở Ấn độ lại đi bên tay trái. Hay việc ăn thịt lợn là chuyện hàng ngày và rất bình thường ở nhiều quốc gia, thì có một số nước theo đạo Hồi lại có qui định cấm ăn thịt lợn.
Một dẫn chứng nữa: cùng là vấn đề độ tuổi kết hôn, nhưng mỗi nước có qui định độ tuổi khác nhau. Chẳng hạn như ở Việt Nam độ tuổi kết hôn ở nữ là từ 18 tuổi, nam từ 20 tuổi trở lên. Trong quá trình thực hiện, lại xuất hiện sự khác biệt: ở những đô thị lớn nơi có trình độ dân trí cao, nếu vi phạm việc xử lí sẽ khác, còn ở những vùng sâu, vùng xa xử lí cũng sẽ khác.
Cũng dễ hiểu thôi. Bản thân con người, xã hội loài người là một thực thể đầy mâu thuẫn và không hoàn thiện, thì làm sao luật pháp, sản phẩm do con người làm ra, có thể tuyệt đối hoàn thiện được, do vậy pháp luật không phải bao giờ cũng đúng, cũng là chân lí.
Hơn nữa, pháp luật phần nào thể hiện ý chí, mang trong nó những toan tính và lợi ích trước hết của chủ thể ban hành, và vì thế, ai cũng hiểu, không phải lúc nào pháp luật cũng đáp ứng mong mỏi của tất cả các thành viên của toàn xã hội.

Sự khái quát hoá quá cao. Ai cũng biết pháp luật là những qui tắc xử sự phổ biến do vậy nó cần phải mang tính khái quát hoá cao, sự khái quát hoá cao đó giữ cho luật pháp vừa ổn định lại vừa đảm bảo được một sự công bằng và thống nhất.
Song nếu sự khái quát hoá quá cao, lại có những qui định quá chung chung, pháp luật dễ dàng bộc lộ điểm yếu nhất - khó đi vào cuộc sống. Thực tế cho thấy mọi tình huống pháp luật xảy ra thường ở những không gian, thời gian và hoàn cảnh sống cụ thể cũng rất khác nhau. Bởi vậy nếu chỉ chú ý đến qui định của điều luật mà không quan tâm đến hoàn cảnh kinh tế, trình độ nhận thức, khả năng giáo dục và nhiều yếu tố khác, việc áp dụng luật pháp không những có thể sai lầm mà còn dễ trở thành sự ám ảnh về tính trừng phạt, gây đau khổ hơn là giáo dục hay cần thiết để duy trì trật tự chung.
Tính dễ bị lạc hậu so với cuộc sống. Pháp luật suy cho cùng chỉ là sự phản ứng của con người trước những đổi thay của tự nhiên và xã hội, do vậy pháp luật luôn đi sau cuộc sống, dù có hoàn thiện đến đâu pháp luật cũng không thể điều chỉnh hết được các quan hệ xã hội.
Như vậy xem ra sự điều chỉnh của pháp luật thường là sự điều chỉnh sau, và sự trừng phạt của luật pháp đôi khi chỉ làm cho người ta sợ mà không vi phạm chứ chưa chắc đã phải là liệu pháp hoàn toàn hiệu năng trong mọi trường hợp.

Các yếu tố ngoài pháp luật


Chính những điểm yếu nói trên làm cho pháp luật, dù là cần thiết, thậm chí tối cần thiết, bản thân nó vẫn chưa hoàn toàn đủ để điều chỉnh toàn bộ hành vi con người, sự hài hoà của cộng đồng, để điều hành một xã hội, một đất nước. Trong hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật cần phải kết hợp và đặt pháp luật trong mối liên hệ với những qui phạm xã hội khác như đạo đức; phong tục, tập quán; điều lệ của các tổ chức xã hội…
Trong thực tế, những dạng qui phạm này đều ra đời trước pháp luật, tuy không có được tính minh bạch và rõ ràng như luật pháp, không có một cơ quan công quyền là nhà nước đứng ra đảm bảo thực hiện, và thường là những chuẩn mực định tính khó đo đếm, nhưng nó lại có nhiều ưu điểm và nhiều mặt tích cực mà luật pháp không thể có được.


Luật pháp có thể yêu cầu mọi người phải làm điều này không được làm điều kia nhưng khi kêu gọi hướng đến cái đẹp, cái thiện thì luật pháp bỗng trở nên bất lực. Chính đạo đức, phong tục tập quán tốt đẹp, điều lệ của các tổ chức xã hội...lại có khả năng làm được và làm tốt điều này. Ngay cả văn học nghệ thuật, đức tin v.v...cũng có vai trò không thể phủ nhận được. Chẳng hạn, trong thời chiến tranh, noi theo gương ông cha đi trước hoặc nghe một bản nhạc, đọc một bài thơ, một cuốn sách, nhiều thanh niên sẵn sàng rời ghế nhà trường ra đi chẳng tiếc tuổi xanh, để quyết tử cho tổ quốc quyết sinh....

Lời kết

Nhà nước pháp quyền là nhà nước vị pháp luật, một nhà nước quản lí xã hội bằng pháp luật. Nước ta đang trong quá trình xây dựng và hoàn chỉnh một nhà nước như vậy. Nhưng điều chỉnh hành vi con người bằng pháp luật, dù đóng vai trò chủ yếu, vẫn là một sự điều chỉnh rất công phu. Trong khi đó các qui phạm xã hội và những hình thức không mang tính qui phạm khác nói ở trên cũng có khả năng điều chỉnh hành vi con người một cách nhẹ nhàng hơn mà vẫn hướng con người tới được những giá trị cao cả.
Tóm lại, luật pháp cần, rất cần thiết, nhưng chỉ dựa vào chỉ luật pháp là chưa đủ.

18:26 | Posted in , | Read More »