QUYỀN TUYỂN VÀ "ĐUỔI ĐẦY TỚ" CỦA DÂN

Tác giả: TS. Võ Trí Hảo
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, đăng ngày 20/12/2012, truy cập tại đây
 
“Ông chủ”, “đầy tớ” và nạn nhân của tệ tham nhũng
Trong những lần khẳng định: ở nước Việt Nam, mọi quyền bính đều thuộc về nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định rõ mối quan hệ giữa Chính phủ và người dân. Người viết: "Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta"[1]. Nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính Phủ. Từ Chủ tịch nước đến giao thông viên cũng vậy, nếu không làm được việc cho dân thì dân không cần đến nữa.[2]  Như vậy, người đã luôn khẳng định: Dân là chủ, Chính phủ là "đầy tớ" của dân. 
“Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”. Quyền “đuổi Chính phủ” này cũng được hiểu là quyền của người dân - “ông chủ” “đuổi đầy tớ”. Nhưng từ “thời dân chủ cộng hòa” cho đến nay, đã hơn sáu mươi lăm năm qua, người dân vẫn chưa biết “đuổi đầy tớ” bằng cách nào, khi “đầy tớ” “không làm được việc cho dân”.
Hiện nay, một doanh nghiệp dân doanh thì không cần áp dụng luật chống tham nhũng, cũng không cần đến các ban bệ phòng, chống tham nhũng, chỉ cần đến một tổ chức rất đơn giản là Ban kiểm soát, nhưng tham nhũng trong doanh nghiệp - cũng như trong khu vực dân doanh - rất thấp. Các cổ đông trong doanh nghiệp dân doanh không cần đưa ra lý lẽ, bằng chứng về những vi phạm của ban giám đốc, nhưng ban giám đốc vẫn rất sợ bị sa thải, bởi các cổ đông này có thể hành xử quyền "đuổi đầy tớ" một cách trực tiếp, nguyên vẹn, không bị cắt xén. Trong khu vực doanh nghiệp nhà nước thì lại có rất nhiều các cơ quan có chức năng phòng chống tham nhũng "cùng nhau đan lưới", nhưng những vụ việc kiểu Vinasin vẫn dễ dàng "lọt lưới". Hiện tượng này có thể được lý giải bởi lý do: tất cả các "cơ quan đan lưới" này không phải là nạn nhân trực tiếp của tệ tham nhũng. Thậm chí, trong lòng "những con cá lọt lưới" có phần còn biết ơn "những bàn tay kéo lưới" thô vụng một cách đáng ngờ.  
Ai mới là nạn nhân cuối cùng của tệ tham nhũng? Nạn nhân của tệ tham nhũng thì nhiều, không chỉ riêng người dân mà có cả công chức, thậm chí quan chức cấp cao trong một số trường hợp cũng có thể trở thành nạn nhân của tệ tham nhũng. Nhưng quan chức chỉ là số ít. Và họ ít khi là nạn nhân cuối cùng của tệ tham nhũng, vì có thể, ở chỗ này họ là nạn nhân, nhưng ở chỗ khác có thể họ lại được hưởng lợi từ tham nhũng. Chỉ có người dân mới là nạn nhân cuối cùng của tham nhũng, nạn nhân truyền kiếp nếu vẫn còn tệ tham nhũng. Họ có thể bị tác động trực tiếp khi phải đưa dấm dúi phong bì ở "cửa quan", có thể bị tác động gián tiếp khi tiền thuế mà họ đóng góp đã không quay lại phục vụ nhân dân mà chảy vào túi tư.  
Các nạn nhân này, với tư cách là người chủ đất nước, đang tìm cách và luôn tìm cách khắc chế tham nhũng, nhưng phải thừa nhận là hiện tại, họ - ông chủ - đang thiếu công cụ của một người chủ thực thụ để thực hiện quyền "đuổi đầy tớ".  
Tuyển "đầy tớ"
Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định nguyên tắc "các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân", "nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ" trong bối cảnh đất nước mới giành được độc lập, khoảng 80% dân chúng còn mù chữ và cuộc sống còn muôn vàn khó khăn khác, nhưng để đảm bảo quyền "đuổi đầy tớ" của nhân dân thì Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn dắt thông qua Hiến pháp 1946 với nhiều quyền dân chủ thực sự, đã tiến hành một cuộc bầu cử công bằng và kết quả là đã hình thành nên một Chính phủ chịu trách nhiệm trước nhân dân. Trong cuộc bầu cử 1946, chưa có cơ chế hiệp thương, các ứng viên được lựa chọn địa bàn ra ứng cử (đơn vị bầu cử nào), chứ không phải do Hội đồng bầu cử trung ương phân bổ như bây giờ[3]. Bởi vậy, các ứng viên đã lựa chọn nơi mình có nhiều mối quan hệ gắn bó nhất, và theo họ, là nơi cử tri có hiểu biết về họ nhiều nhất, để ra ứng cử. Chính vì vậy, sự hiểu biết của cử tri về ứng cử viên rất tốt, đặc biệt là mối quan hệ lợi ích giữa ứng viên và cử tri rất gắn bó, mặc cho phương tiện truyền thông thời đó rất lạc hậu. Một đơn vị bầu cử có thể có tới hàng chục ứng cử viên, nên tính cạnh tranh giữa các ứng cử viên rất cao. Tất cả các ứng cử viên này đều phải "thi đấu" hết mình trước nhân dân và hồi hộp chờ kết quả từ sự phán xét của cử tri.
Ứng cử viên ngày nay cũng hồi hộp trong bầu cử, nhưng đỉnh điểm của sự hồi hộp diễn ra trước kỳ bầu cử. Bởi vì trước khi bầu cử sẽ diễn ra quá trình hiệp thương. Hiệp thương hứa hẹn một kết quả bầu cử đẹp: mỗi đơn vị bầu cử không có quá nhiều hay quá ít ứng viên, tỷ lệ nam nữ, thành phần dân tộc, các ngành, vùng miền, thành phần dân cư... của đại biểu dân cử sẽ được cơ chế hiệp thương sàng lọc trước khi cuộc bầu cử thực sự diễn ra. Với cơ chế hiệp thương, việc cung cấp danh sách các ứng cử viên gần như được quy về duy nhất một "nhà cung cấp". Các ứng cử viên có thể được phân bổ về một địa phương xa lạ và một đối thủ cạnh tranh xa lạ. Việc Ủy ban thường vụ Quốc hội ấn định tỷ lệ, thành phần đại biểu Quốc hội (ĐBQH)[4] có thể ví với việc cấp quota xuất nhập khẩu.  
Cơ chế cấp quota xuất nhập khẩu là một đặc điểm dẫn đến việc cộng đồng quốc tế chưa thừa nhận Việt Nam có một nền kinh tế thị trường tự do đầy đủ. Thì cũng như vậy đối với cơ chế "cấp quota ứng cử viên đại biểu nhân dân". Thị trường cung ứng "công bộc nhân dân" chỉ tự do cho bên mua (tự do cho cử tri), nhưng đối với bên cung ứng (các ứng cử viên) thì phải được cấp quota và trải qua ba vòng chọn lọc của cơ chế hiệp thương. Trong khi đó, một thị trường cạnh tranh tự do thực sự chỉ tồn tại khi cả bên mua và bên cung ứng đều có quyền tự do thực thụ; thiếu tự do cho một trong hai bên thì thị trường chưa thể được xem là hoàn hảo. Vì thị trường thiếu hoàn hảo nên chưa cần cuộc bầu cử chính thức diễn ra thì người dân Việt Nam trước đó  đã có thể biết được cơ bản người "chăn dân" là ai, "đầy tớ" của mình là ai. Điều này dẫn đến một hệ quả tiếp theo, là người "chăn dân" sẽ đặt mối quan tâm và chú trọng hàng đầu đến việc làm hài lòng người có quyền "phân phối quota", sắp xếp cuộc bầu cử, sau đó mới đến dân nguyện, vì họ phải tìm cách làm sao mà chưa cần bầu cử thì thiên hạ đã tin là họ sẽ đắc cử. Vì những yếu tố trung gian này trong quá trình tuyển dụng "công bộc", nên ý chí của nhân dân sẽ bị khúc xạ, tán xạ khi đi qua các bộ lọc (filter) của cơ chế hiệp thương. Hay nói cách khác, quyền tuyển dụng "công bộc" của nhân dân bị suy giảm, nên các "công bộc" ngày nay sẽ được nhiều tự do hơn so với "công bộc" được nhân dân tuyển dụng vào năm 1946. Sau khi Quốc hội khóa XIII thông qua nghị quyết phê chuẩn bổ nhiệm 4 Phó Thủ tướng và 22 Bộ trưởng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có bài phát biểu nhậm chức. Người đứng đầu Chính phủ cam kết: "Chúng tôi nguyện sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, thường xuyên học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực sự cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư, thực sự là công bộc (tác giả nhấn mạnh) của dân, việc gì có lợi cho dân thì phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước". Chúng ta không hề nghi ngờ lời cam kết của Thủ tướng, nhưng vì những yếu tố gây khúc xạ, tán xạ này, nên Thủ tướng và Chính phủ sẽ rất khó để làm "công bộc" mẫu mực của dân khi toàn bộ hệ thống cán bộ, công chức còn lại đang được tuyển dụng và phục vụ nhân dân theo cách thức, cơ chế cũ.
Sa thải "đầy tớ"
Ấy là nói về việc thực hiện quyền lực của nhân dân trong việc tuyển dụng "công bộc", còn việc đuổi những "đầy tớ" “không làm được việc cho dân” - hay theo cách nói dân gian là các "đầy tớ hư" - lại càng khó hơn. Vì theo Điều 56 Luật Tổ chức Quốc hội thì khi "ĐBQH không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân thì tùy theo mức độ phạm sai lầm mà bị Quốc hội hoặc cử tri bãi nhiệm".
Như vậy, điều kiện đầu tiên để có thể bãi nhiệm là nhân dân phải chứng minh đại biểu phạm sai lầm, mà việc chứng minh phạm sai lầm của người đại biểu thì không dễ, vì họ thường không trực tiếp thực hiện công việc mà chỉ nắm vị trí lãnh đạo. Và "ông chủ" trong trường hợp này không thể "đuổi đầy tớ" chỉ vì không thích, không đạt được kỳ vọng; đặc biệt không thể đuổi "đầy tớ" khi họ không chịu làm gì cả, vì không làm gì cả thì sẽ không phạm sai lầm nào.
Và kể cả khi đại biểu phạm sai lầm rồi thì câu chuyện "đuổi đầy tớ" không phải là câu chuyện giữa "người chủ" và "đầy tớ" mà là câu chuyện giữa "đầy tớ to" và "đầy tớ bé", giữa "đầy tớ tập thể" và "đầy tớ cá nhân". Bởi vì, nhân dân chỉ được trực tiếp tiến hành bỏ phiếu bãi nhiệm ĐBQH khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định đưa vấn đề này ra trước dân. Và thực tiễn cho thấy, lịch sử Việt Nam chưa có lần nào xảy ra việc đưa ĐBQH ra cho cử tri trực tiếp bỏ phiếu bãi nhiệm. Mặt khác, tuy Điều 56 đoạn 1 Luật Tổ chức Quốc hội có nêu là đề nghị bãi miễn đại biểu có thể xuất phát từ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc hoặc từ chính cử tri. Nhưng quyền khởi xướng đề nghị bãi miễn của cử tri trên thực tế bị vô hiệu hóa, bởi không có văn bản nào hướng dẫn tiếp theo về thủ tục hình thành đề nghị bãi miễn, số lượng cử tri cần thiết phải có cho một đề nghị bãi miễn...
Với hai bất cập về bãi miễn người đại biểu này thì dẫn đến “ông chủ" không có quyền trực tiếp hình thành nên đề xuất "đuổi đầy tớ" và cũng không có quyền tự mình trực tiếp "đuổi đầy tớ". Và khi nhân dân không thực quyền trong tuyển dụng và sa thải "đầy tớ" thì tính chịu trách nhiệm của các "đầy tớ" trước nhân dân của toàn bộ bộ máy nhà nước nói chung sẽ thấp. Tính chịu trách nhiệm thấp sẽ dẫn đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước thấp, tham nhũng tăng.
Muốn khắc phục được hiện tượng này thì những vấn đề bầu cử, bãi nhiệm cần phải được quy định ở tầm hiến pháp, thay vì nằm rải rác ở Luật Bầu cử ĐBQH, Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Quy chế hoạt của Hội đồng nhân dân...  vì đây là những vấn đề sống còn, gốc rễ của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Khi được điều chỉnh ở tầm hiến pháp, thì cần cân nhắc bỏ cơ chế hiệp thương hoặc chí ít là chỉ hiệp thương một vòng thay vì ba vòng như hiện nay. Với trình độ dân trí năm 1946, chúng ta vẫn tiến hành thành công một cuộc bầu cử dân chủ, công bằng và tự do thì không có lý gì, dân trí Việt Nam 65 năm sau lại tụt lùi đến mức không đủ trình độ lựa chọn ai là người đại biểu đích thực của mình, dẫn đến cần phải có người định hướng, ấn định sẵn cơ cấu thành phần Quốc hội cho mình./.
-----------------
Chú thích

[1] Thư gửi Ủy ban Nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, báo Cứu quốc số ra ngày 17/10/1945.
[2] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 4, NXB Sự Thật, trang 283.
[3] Điều 14 Khoản 7 Luật bầu cử ĐBQH
[4] Điều 30, 32, 43 Luật bầu cử ĐBQH

22:33 | Posted in | Read More »

HIẾN PHÁP 1946: THỂ HIỆN CƠ CHẾ PHÂN CÔNG VÀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC

Tác giả: Nguyễn Minh Tuấn
Nguồn: Tạp chí Tia sáng, đăng ngày 14/12/2011, 
truy cập tại đây


Ngày 12/12/2011, Tạp chí Tia sáng có đăng tải bài viết: "Học từ Hiến pháp 1946: Cần nhìn nhận cả ưu điểm và hạn chế" của tác giả Nguyễn Thị Hường. Trong bài viết này, tác giả cho rằng “hạn chế của Hiến pháp 1946: tập quyền chứ không phải phân quyền” và đưa ra những căn cứ mà theo tôi không thuyết phục. 

1. Khi đọc bài viết, tôi không rõ tác giả bài viết hiểu “phân quyền” và “tập quyền” là theo nghĩa nào.
Montesquieu
cha đẻ học thuyết phân quyền trong tác phẩm "Tinh thần pháp luật" hoàn toàn không dùng khái niệm "phân chia quyền lực tuyệt đối” (Séperation des pouvois), mà là “phân công quyền lực” (Distribution des pouvois)[1]. Ông cho rằng bản chất khi có quyền lực là dễ dẫn tới tình trạng lạm quyền, vì vậy cần phải phân công, kiểm soát và giới hạn quyền lực để tránh lạm quyền và bảo vệ dân quyền[2]. Thực tế ngày nay ngay cả ở Mỹ, một nước theo chủ thuyết "phân quyền cứng rắn" cũng không tồn tại một sự "phân quyền tuyệt đối" giữa lập pháp và hành pháp, điều này một phần do quan hệ ràng buộc của hai viện và Chính phủ trong hoạt động lập pháp, một phần do tính chất quan hệ giữa các đảng phái không tĩnh mà luôn động[3]. Đưa ra những căn cứ lịch sử và thực tế như vậy để thấy rằng không có sự phân quyền tuyệt đối, mà chỉ tồn tại sự phân công tương đối, tồn tại song hành với việc kiểm soát và cân bằng quyền lực.


Dùng khái niệm "tập quyền" để nói về Hiến pháp 1946 cũng không có cơ sở pháp lý cũng như cơ sở thực tế lịch sử. Cái gọi là “tập quyền”, hay thậm chí nguyên tắc “tập trung dân chủ” nếu có chỉ xuất hiện trong các Hiến pháp sau này (cụ thể Điều 4 Hiến pháp 1959, Điều 6 Hiến pháp 1980, Điều 6 Hiến pháp 1992), tuyệt nhiên không có qui định nào trong Hiến pháp 1946 dùng đến khái niệm “tập quyền” hay “tập trung dân chủ”.


Điểm khác biệt và là nét độc đáo của Hiến pháp 1946 so với các bản Hiến pháp sau này là bản Hiến pháp này không theo bất kỳ một nguyên mẫu Hiến pháp nào có sẵn trong lịch sử. Sau khi cách mạng Tháng mười Nga năm 1917 thành công, có một bản Hiến pháp rất nổi tiếng và có hiệu lực ở Liên xô thời điểm đó là Hiến pháp năm 1936, nhưng chủ tịch Hồ Chí Minh - một người chịu ảnh hưởng sâu sắc của chủ nghĩa Mác - Lênin cũng không lấy bản Hiến pháp này là khuôn mẫu khi xây dựng Hiến pháp 1946.


2. Tác giả bài viết lấy qui định "Nghị viện chỉ có một viện. Nghị viện bầu ra Chủ tịch nước" (Điều 45), Chủ tịch nước chọn Thủ tướng với sự chuẩn thuận của Nghị viện (Điều 47) [...]” rồi từ đó kết luận rằng: "Hiến pháp 1946 là tập quyền chứ không phải phân quyền" là thiếu cơ sở.


Nếu cho rằng Nghị viện bầu ra Chủ tịch nước (theo Hiến pháp 1946 là người đứng đầu Chính phủ) và từ đó kết luận oan uổng nhà nước đó là “tập quyền” là hoàn toàn không đúng. Chẳng hạn, Hiến pháp nhiều nước hiện nay, đơn cử như ở Đức, theo chính thể cộng hòa đại nghị, Luật cơ bản qui định người đứng đầu Chính phủ là do Hạ viện bầu (Điều 63 Khoản 1 Luật cơ bản) hay ở Anh theo chính thể quân chủ lập hiến, Thủ tướng Anh theo truyền thống là do Hạ viện bầu, Nữ Hoàng bổ nhiệm. Tuy nhiên không ai nói là nhà nước Đức hay nhà nước Anh hiện nay là theo cơ chế “tập quyền” cả.


Thực tế, Hiến pháp 1946 đã có những yếu tố nhất định thể hiện cơ chế phân công quyền lực, kiểm soát và cân bằng quyền lực (checks and balances):

Thứ nhất,
cho rằng Hiến pháp 1946 không có sự “phân công quyền lực” là không đúng.



Nghị viện nhân dân có quyền đặt ra pháp luật – quyền lập pháp (Điều 23). Chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc – quyền hành pháp (Điều 43). Cơ quan tư pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà gồm có: a) Toà án tối cao; b) Các toà án phúc thẩm; c) Các toà án đệ nhị cấp và sơ cấp – quyền tư pháp (Điều 63).

Thứ hai,
cho rằng Hiến pháp 1946 không có sự “cân bằng quyền lực” là không đúng.



Mặc dù Nghị viện bầu ra Chủ tịch nước (Điều 45 Câu 1), nhưng Chủ tịch nước không phải chịu một trách nhiệm nào, trừ khi phạm tội phản quốc (Điều 50). Mặc dù, các thẩm phán đều do Chính phủ bổ nhiệm (Điều 64), nhưng trong khi xét xử, các viên thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp (Điều 69). Những qui định này đã phần nào biểu hiện sự “cân bằng quyền lực” cần thiết giữa các thiết chế Nghị viện nhân dân, Chính phủ và Tòa án.


Chính phủ lúc đó được xác định là cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc (Điều 43). Điều này cho thấy không có một cơ quan nào cao hơn Chính phủ trong việc thực thi quyền hành chính. Theo Hiến pháp 1946, Chủ tịch nước không chỉ là nguyên thủ quốc gia, người thay mặt cho nhà nước (Điều 49 mục a), mà còn là người đứng đầu Chính phủ (Điều 44). Việc Chủ tịch nước không phải chịu trách nhiệm nào trừ tội phản quốc thể hiện rõ tính độc lập của Chủ tịch nước, một tiêu chí để tạo nên sự “cân bằng quyền lực”.


Chính Phủ có thể bổ nhiệm thẩm phán, nhưng khi xét xử thẩm phán chỉ tuân theo luật, không chịu sự can thiệp của bất cứ cơ quan nào, kể cả cơ quan đã bổ nhiệm (Điều 69). Khi xét xử thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật là đảm bảo cốt lõi nhất thể hiện tính độc lập của thẩm phán, cũng như sự độc lập của tòa án với các thiết chế khác.

Thứ ba,
cho rằng Hiến pháp 1946 không có sự “kiểm soát quyền lực” là không đúng.



Sự kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước thể hiện rất rõ ở các qui định cụ thể sau:
Chủ tịch nước có quyền phủ quyết tương đối với các đạo luật của Nghị viện nhân dân:  Những luật đã được Nghị viện biểu quyết, Chủ tịch nước phải ban bố chậm nhất là 10 hôm sau khi nhận được thông tri. Nhưng trong hạn ấy, Chủ tịch có quyền yêu cầu Nghị viện thảo luận lại. Những luật đem ra thảo luận lại, nếu vẫn được Nghị viện ưng chuẩn thì bắt buộc Chủ tịch phải ban bố (Điều 31).
 

Nội các có thể bị bất tín nhiệm: Trong hạn 24 giờ sau khi Nghị viện biểu quyết không tín nhiệm Nội các thì Chủ tịch nước Việt Nam có quyền đưa vấn đề tín nhiệm ra Nghị viện thảo luận lại. Cuộc thảo luận lần thứ hai phải cách cuộc thảo luận lần thứ nhất là 48 giờ. Sau cuộc biểu quyết này, Nội các mất tín nhiệm phải từ chức (Điều 54 Câu 4).
Nghị viện nhân dân có thể bị giải tán: Khi nào hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý, Nghị viện có thể tự giải tán. Ban thường vụ thay mặt Nghị viện tuyên bố sự tự giải tán ấy (Điều 33). Khi Nghị viện hết hạn hoặc tự giải tán, Nội các giữ chức quyền cho đến khi họp Nghị viện mới (Điều 56).
Nghị viện nhân dân có quyền biểu quyết ngân sách: Điều 23 đã qui định rất rõ thẩm quyền này của Nghị viện nhân dân. Thẩm quyền này thể hiện sự tác động trực tiếp của Nghị viện nhân dân đến Chính phủ và Tòa án.
Chính phủ có quyền tác động trực tiếp đến hoạt động lập pháp của Nghị viện nhân dân, cũng như hiệu quả thực tế của hoạt động này: Điều này thể hiện ở qui định Chính phủ có quyền đề nghị những dự án luật ra trước Nghị viện (Điều 52 mục b), đồng thời có quyền thi hành các đạo luật và quyết nghị của Nghị viện (Điều 52 mục a).
Vấn đề trách nhiệm cá nhân của Bộ trưởng được qui định rất rõ trong Hiến pháp: Hiến pháp 1946 đặt ra vấn đề Bộ trưởng phải được Nghị viện tín nhiệm, nếu không đuợc tín nhiệm thì phải từ chức (Điều 54 Câu 1). Chưa hết, Thủ tướng phải chịu trách nhiệm về con đường chính trị của Nội Các ((Điều 54 Câu 3). Tập thể Nội các không phải liên đới chịu trách nhiệm về hành vi của Bộ trưởng, điều đó muốn nhấn mạnh vấn đề cá nhân Bộ trưởng phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về ngành, lĩnh vực mà mình phụ trách.
Với những cơ sở lập luận trên, sẽ rất khó hiểu nếu cho rằng Hiến pháp 1946 là “tập quyền” chứ không phải “phân quyền”, thậm chí coi đây là một điểm hạn chế.
Lẽ dĩ nhiên, không có bản hiến pháp nào là tuyệt đối hoàn thiện, Hiến pháp 1946 cũng không phải ngoại lệ. Khi đặt trong hoàn cảnh chiến tranh và chính trị rất phức tạp lúc đó, chắc chắn là rất khác so với thời điểm hiện nay, thời buổi hội nhập toàn cầu. Việc chỉ ra những hạn chế của các bản Hiến pháp, tăng cường trao đổi, lắng nghe các ý kiến khác nhau, đặc biệt khi sửa đổi Hiến pháp thời gian tới, theo quan điểm của tác giả là rất cần thiết và rất đáng hoan nghênh. Tuy nhiên như đã phân tích ở trên, đứng trên phương diện khoa học, kết luận Hiến pháp 1946 thể hiện nguyên tắc tập quyền, không phải phân quyền như một hạn chế của tác giả, theo quan điểm của tôi là chưa thuyết phục.

------
* NCS Đại học Saarland, Cộng hòa liên bang Đức


[1] Xem bản gốc Tiếng Pháp: Montesquieu (1748), De L'eprit des lois, V/14, XI/6, XI/7, XI/14, XI/18, XI/20, XII/1.
[2] Montesquieu (1748), De L'eprit des lois, XI/18, XI/20, XII/1.
[3] Một bằng chứng rất rõ là ở Mỹ luôn tồn tại cơ chế vận động hành lang (lobby) trong hoạt động lập pháp. Xem thêm:Nguyễn Quốc Văn (2006), Các nhóm lợi ích và vận động hành lang trong nền chính trị Mỹ, Nghiên cứu Lập pháp, số 1/2006; Nguyễn Chí Dũng (2006), Vận động hành lang trong hoạt động lập pháp các nước và xu hướng ở Việt Nam, Nghiên cứu Lập pháp, số 9/2006.

17:48 | Posted in | Read More »

TIẾP CẬN PHÁP LUẬT TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA

Tác giả: Nguyễn Minh Tuấn*
Nguồn: Tạp chí Tia sáng, đăng ngày 8/12/2011, truy cập tại đây
 
Bên cạnh việc được nhìn nhận dưới góc độ là những định chế, pháp luật còn có xu hướng được nhìn nhận dưới góc độ văn hóa,  mục đích là nhằm vượt lên những bất đồng, khác biệt, để hợp tác xây dựng nên những qui tắc ứng xử mới – những qui tắc có khả năng đem lại lợi ích cho các bên tham gia và cho toàn xã hội.
 
Lâu nay pháp luật thường được nhìn nhận dưới góc độ là những định chế có tính chất “quan phương” từ phía nhà nước hay nói cách khác pháp luật được hiểu là tổng thể các qui tắc xử sự do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội. Tuy nhiên ngày nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa, tồn tại một xu hướng tiếp cận pháp luật khác – xu hướng nhìn pháp dưới góc độ văn hóa1,  mục đích là nhằm vượt lên những bất đồng, khác biệt, để hợp tác xây dựng nên những qui tắc ứng xử mới –những qui tắc có khả năng đem lại lợi ích cho các bên tham gia và cho toàn xã hội.

- Nhìn pháp luật trong một không gian đa chiều

Pháp luật cũng là một dạng thức của văn hóa – văn hóa qui phạm. Khi đặt pháp luật trong một phạm trù rộng hơn là “văn hóa”, ta sẽ thấy rõ tính chất đa dạng, đa chiều của pháp luật.

Chẳng hạn nếu như ở Bỉ, Hà Lan, Luxemburg, người ta có đạo luật riêng về cái chết nhân đạo, cho phép áp dụng một cái chết nhẹ nhàng hơn đối với những người mắc bệnh hiểm nghèo không thể cứu chữa được, để tránh cho người bệnh đau đớn và đỡ tốn kém tiền bạc2 thì ở Việt Nam và nhiều nước khác luật pháp và đạo đức đều không cho phép điều đó, thậm chí Điều 101 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 còn trừng trị những người thực hiện hành vi này với tội danh xúi giục hoặc giúp người khác tự sát.

Ở Diyarbakir, Thổ Nhĩ Kỳ, để có biện pháp giáo dục đối với một người đàn ông thường xuyên đánh vợ, Tòa án đã tuyên phạt ông ta một hình phạt là tặng hoa cho vợ mỗi tuần một lần trong vòng năm tháng để học cách tôn trọng cái đẹp. Ngoài ra ông còn phải đọc một cuốn sách mỗi tháng, trong vòng năm tháng về đề tài “quan hệ gia đình và giáo dục con cái” để biết cách làm thế nào để trở thành một ông chồng tốt3.

Việc ôm, hôn khi gặp gỡ thể hiện thái độ thân thiện, cởi mở trong giao tiếp ở nhiều nước Châu Âu là việc làm rất bình thường, nhưng nếu chúng ta sống ở Malaysia mà có hành động như vậy ở nơi công cộng thì đó là hành động bất hợp pháp và chúng ta có thể phải ngồi tù 1 năm để suy nghĩ về hành động mà nhìn bề ngoài rất chính đáng của mình4.

Rất khác với văn hóa pháp luật ở Việt Nam, luật của bang California ở Mỹ – một đất nước nhiều người cho là giàu có và văn minh nhất thế giới – vẫn cho phép người chồng được phép đánh vợ bằng thắt lưng da nhưng lại qui định cụ thể điều kiện dây thắt lưng không được rộng hơn 2 inch (1 inch= 2,54cm)5

Ở Afghanistan người ta có đạo luật áp dụng trong cuộc sống gia đình của người thiểu số Shia cho phép chồng có quyền bỏ đói vợ nếu bị từ chối sex6

Từ những ví dụ trên cho thấy ở những không gian, thời gian khác nhau thì pháp luật ở nơi này đôi khi lại là điều tồi tệ, cấm kị ở một nơi khác vì giữa chúng không có chung một hệ qui chiếu.

- Nhìn pháp luật dưới góc độ là kết quả phản ánh một quá trình tự thích nghi

Pháp luật phản ánh sự thích nghi trong một quá trình. Chính sự tự thích nghi đó là nguồn gốc tạo ra sự khác biệt.

Chẳng hạn việc ở ta đi đường về bên tay phải, ở Anh người ta đi phía bên tay trái; ở ta gật đầu có nghĩa là đồng ý và lắc đầu có nghĩa là không, nhưng tại Bulgaria, Hy Lạp, Nam Tư, Thỗ Nhĩ Kỳ, Iran và Bengal thì gật đầu lại có nghĩa là không, và lắc đầu lại có nghĩa là đồng ý... tất cả điều đó phản ánh việc tự thích nghi, phản ánh sự khác biệt trong cách lựa chọn phương thức chung sống, lựa chọn các vấn đề muôn mặt của cuộc sống.

Cái gì hợp lý thì tồn tại, cái gì tồn tại ít nhiều đã chứa đựng trong đó tính hợp lý. Hay nói cách khác mọi thứ tồn tại, vận động và phát triển trên thế giới này đều có lý do riêng của nó và chừng nào còn những khác biệt về lịch sử, địa lý, trình độ phát triển giữa các nền văn hóa thì chừng đó vẫn còn tồn tại những sự khác biệt nhưng đầy tính hợp lý. Chính vì vậy, nếu nhìn pháp luật dưới góc độ văn hóa, người ta thường không phán xét vội vàng, chủ quan về sự cao thấp, mà nhìn nhận vấn đề trong tính đa dạng và khác biệt vốn có của sự vật.

- Nhìn pháp luật trong trạng thái không tĩnh tại mà luôn vận động, biến đổi, phát triển không ngừng

Tất cả sự vật, hiện tượng đều ở trong trạng thái vận động, biến đổi và phát triển không ngừng không riêng gì pháp luật. Pháp luật cũng là một dạng thước đo, nhưng thước đo hay cách đo đó sẽ chỉ đúng trong một cộng đồng nhất định, phạm vi nhất định, thời điểm nhất định. Khi đánh giá một vấn đề, ta nên đặt nó trong điều kiện, hoàn cảnh, không gian, thời gian cụ thể, có vậy ta mới có khả năng đánh giá được đúng bản chất của vấn đề.

Chẳng hạn, nếu như Hiến pháp 1980 chỉ qui định có hai thành phần kinh tế là kinh tế quốc doanh và kinh tế hợp tác xã (Điều 18 Hiến pháp 1980), kinh tế tư bản tư nhân không được thừa nhận thì Hiến pháp 1992 đã thừa nhận nhiều thành phần kinh tế gồm kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (Điều 16 Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung 2001).

Hoặc hiện nay chủ đề “luật biểu tình” ở nước ta còn là vấn đề pháp lý rất mới nhưng rất có thể trong một thời gian tới, khi Luật biểu tình đã được Quốc hội nước ta thông qua và đi vào cuộc sống, đưa hoạt động biểu tình đi vào nề nếp, phù hợp với xu hướng dân chủ, bảo vệ quyền tự do con người thì đây sẽ là một sinh hoạt chính trị bình thường như nhiều quốc gia hiện nay.

- Nhìn pháp luật bằng tinh thần khoan dung

Đúng là cái gì hay ta nên học, cái gì xấu ta nên tránh, nhưng trước khi biết được hay dở thế nào, cần phải có một cái nhìn "khoan dung về văn hóa, cũng như pháp luật". Khoan dung là tinh thần chấp nhận sự khác biệt. Thực tế nhiều vấn đề tưởng như không có lối thoát đã được hóa giải bằng việc tôn trọng nguyên tắc xử sự này vì có khoan dung ta mới có điều kiện để hiểu, chia sẻ, đàm phán và cùng tìm ra những qui tắc xử sự chung phù hợp.

Một người chỉ bằng “đôi mắt” hay thông qua “bộ lọc” của riêng mình và lấy cộng đồng văn hóa của mình làm chuẩn khó có thể đánh giá đúng được hết những hành vi và lời nói của một người thuộc một cộng đồng văn hóa khác hay một thế giới quan văn hóa khác. Hiện nay đâu đó vẫn tồn tại lối tư duy cho rằng: "Những gì phù hợp với cái mà bản thân tôi hoặc cộng đồng văn hóa của tôi cho là “đúng”, thì mới là “đúng”, còn những gì khác lạ, không phù hợp với cái bản thân tôi và cộng đồng văn hóa của tôi cho là “đúng” thì ắt hẳn là "sai". Lối tư duy này là không nên và đó cũng giống như trong một truyện vui khi được hỏi: “cây hoa nào đẹp nhất?”, một chú nhím liền trả lời ngay rằng: “cây hoa xương rồng là đẹp nhất” vì cây hoa xương rồng có những điểm tương đồng với “vẻ ngoài” của chú nhím này. 

Giá trị của tinh thần khoan dung ở chỗ khi nhìn vào nền văn hoá khác, hoặc pháp luật của những quốc gia khác trong nhiều trường hợp ta còn tìm thấy được trong đó cả những giá trị cao cả, văn minh hơn những gì chúng ta đang có. Điều này vô cùng cần thiết hiện nay khi sự giao thoa văn hóa, luật pháp giữa các khu vực, quốc gia, vùng, miền đã trở thành một xu hướng tất yếu.

Chung sống hòa bình, bình đẳng, hợp tác, thống nhất trong đa dạng và chủ động học hỏi những giá trị của nhau chính là sự lựa chọn tất yếu của các nền văn hóa, của các hệ thống pháp luật và mỗi một cá nhân trong giai đoạn hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay.

---
(*) NCS Đại học Saarland, CHLB Đức
1. Năm 2002, UNESCO đã đưa ra một định nghĩa về văn hóa mà đến nay được rất nhiều người biết đến: “Văn hóa nên được xem như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”. Nguyên bản Tiếng Anh: “Culture should be regarded as the set of distinctive spiritual, material, intellectual and emotional features of society or a social group, and that it encompasses, in addition to art and literature, lifestyles, ways of living together, value systems, traditions and beliefs.”
2. Janssen, André (2002). The New Regulation of Voluntary Euthanasia and Medically Assisted Suicide in the Netherlands. Int J Law Policy Family 16 (2): 260–269.
3. Phạt đọc sách thay vì ngồi tù, Báo Tuổi trẻ, ngày 7/8/2009, truy cập tại http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=330534&ChannelID=268.
4. Jonathan Kent, Kiss warning to Malaysia Tourists, BBC News, http://news.bbc.co.uk/2/hi/asia-pacific/4879248.stm.
5. Libertarian Party of Maryland, Weird American Laws, http://www.md.lp.org/weird_laws.php
6. Jennifer Heath, Aschraf Zahedi, Land of the unconquerable: the lives of contemparary Afgan women, University of California Press, 2011, p. 162–170.

03:28 | Posted in , | Read More »

LUẬT BIỂU TÌNH

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu về
căn cứ đề nghị Quốc hội xây dựng
Luật Biểu tình tại QH hôm 25/11
Tác giả: TS. Nguyễn Sĩ Dũng
Nguồn: Tạp chí Tia sáng, 
đăng ngày 30/11/2011, 
truy cập tại địa chỉ: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&News=4658&CategoryID=42
 
Sự chậm trễ trong việc ban hành Luật biểu tình là một điều không may. Bởi vì rằng điều này có thể gây ra rất nhiều rắc rối cho chúng ta trong giai đoạn phát triển hiện nay của đất nước ta. Thật khó lý giải việc người dân Thái Lan, người dân Myanmar… có thể thực thi được quyền biểu tình của mình, còn người dân Việt Nam thì lại chưa thể làm được như vậy. 
 
Quyền biểu tình là một quyền hiến định. Quyền này được ghi nhận tại Điều 69 của Hiến pháp năm 1992 như sau: “Công dân có quyền… biểu tình theo quy định của pháp luật”. Như vậy, Hiến pháp ghi nhận quyền, nhưng không quy định thủ tục để thực thi quyền. Hiến pháp giao việc này lại cho hoạt động lập pháp. Theo đó, thủ tục thực thi quyền biểu tình phải được bảo đảm bằng một đạo luật.
Hiến pháp đã được ban hành đã gần 20 năm nay. Tuy nhiên, đến nay chúng ta vẫn chưa có Luật biểu tình. Có vẻ như, theo lô-gíc luật phải chờ nghị định, nghị định phải chờ thông tư, thì Hiến pháp cũng phải chờ thôi. Và không khéo phải chờ lâu hơn cả.

Sự chậm trễ trong việc ban hành Luật biểu tình là một điều không may. Bởi vì rằng điều này có thể gây ra rất nhiều rắc rối cho chúng ta trong giai đoạn phát triển hiện nay của đất nước ta. Chúng ta đang sống trong một thế giới đã thay đổi. Với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin và truyền thông, với việc hàng chục triệu người Việt có thể tiếp cận Internet (và con số nay đang tăng lên với tốc độ nhanh nhất nhì thế giới), với các mạng xã hội ngày càng mở ra vô tận, chúng ta đang hội nhập sâu rộng vào thế giới hiện đại, đang sống cùng nhịp với nó, đang chia sẻ những giá trị phổ quát nhất của nó và chịu tác động nhiều mặt từ những ảnh hưởng của nó. Trong một bối cảnh như vậy, thì áp lực bị so sánh với thế giới xung quanh là rất lớn. Thật khó lý giải việc người dân Thái Lan, người dân Myanmar… có thể thực thi được quyền biểu tình của mình, còn người dân Việt Nam thì lại chưa thể làm được như vậy. Và nếu có điều gì đáng phải quan ngại, thì đây là một điều như thế. Rõ ràng, các thế lực thù địch sẽ rất dễ lợi dụng điều này để truyên truyền, chống phá chúng ta.

Quyền biểu tình là một quyền tự do. Quyền tự do là một quyền lựa chọn. Anh có quyền tự do đi biểu tình, thì tôi cũng có quyền tự do không đi biểu tình. Điều kiện tiên quyết để thực thi một quyền tự do là việc thực thi quyền đó phải không được ảnh hưởng đến quyền tự do của những người khác. Việc tự do đi biểu tình không thể được ảnh hưởng đến việc tự do đi vui chơi, giải trí, tự do đi làm ăn, đi mưu cầu hạnh phúc. Những quy định rõ ràng và hợp lý của pháp luật là không thể thiếu để chúng ta bảo đảm rằng việc người dân thực thi các quyền tự do của mình là không xung đột với nhau.

Nói đến biểu tình, chúng ta cần phải quan tâm tới vấn đề về tâm lý của đám đông. Như từng cá nhân, về cơ bản, chúng ta hành xử hợp lý, nhưng như một đám đông chúng ta rất dễ bị kích động. Chuyện đập phá, đốt xe, ném đá… là những chuyện rất dễ xảy ra khi tâm lý đám đông bị kích động. Và điều này chứa đựng những rủi ro rất lớn đối với trật tự-pháp luật và ổn định xã hội. Làm sao chúng ta có thể tránh được những phản ứng phụ bất lợi này nếu không có các quy định về trình tự, thủ tục và cách thức tiến hành biểu tình?!

Cuối cùng, Dự án Luật biểu tình do Thủ tướng Chính phủ đề xuất và bảo trợ đã được Quốc hội đưa vào Chương trình xây dựng pháp luật của mình. Hy vọng dự luật rất cần thiết cho giai đoạn phát triển mới của đất nước này sẽ sớm được thông qua.

18:38 | Posted in , | Read More »

TRANH CHẤP Ở CHUNG CƯ KEANGNAM: LUẬT PHÁP ĐÓNG VAI TRÒ GÌ?

Tác giả: PGS.TS Nguyễn Ngọc Điện,
Nguồn: Báo Sài Gòn Tiếp Thị Online, đăng ngày 5/12/2011
truy cập tại địa chỉ: http://sgtt.vn/Goc-nhin/156555/Tranh-chap-o-chung-cu-Keangnam-Luat-phap-dong-vai-tro-gi.html

SGTT.VN - Hình ảnh các cư dân trong toà nhà Keangnam (Hà Nội) bày bếp lò đốt bằng than tổ ong ngay tầng trệt của cao ốc được cho là cao nhất và hiện đại bậc nhất ở Việt Nam và đun nấu, được đăng trên các trang báo mạng, trông rất phản cảm. Nó trái ngược với kiểu sống văn minh mà người ta muốn nhìn thấy ở nơi này. 

Tuy nhiên, có thể từ đó phần nào cảm nhận được nỗi bức xúc của người trong cuộc và cả sự bế tắc của họ trong việc lựa chọn thái độ ứng xử đáp trả trước cách hành xử mang nặng tính tuỳ tiện, áp đặt và chèn ép của chủ đầu tư: ấn định mức phí dịch vụ cao gấp mấy lần mức trần do UBND Hà Nội ban hành, rồi tự ý cắt điện, cắt thang máy, đóng cửa cầu thang bộ để trừng phạt những người không đóng phí đúng hạn…


Dưới sức ép của cộng đồng cư dân… và cả của nhà chức trách, tạm thời ban quản lý toà nhà đã nhượng bộ và khôi phục việc cung ứng dịch vụ như bình thường. Nhưng chẳng ai nói chắc được rồi sự việc sẽ đi về đâu, cũng chẳng dám chắc về việc không tái diễn mối quan hệ đôi co đầy căng thẳng như mấy ngày vừa qua.

Thực ra tranh chấp loại này không phải là chuyện cá biệt. Có thể tìm được rất nhiều vụ cãi vã, xung đột nổ ra từ mấy năm nay ở các chung cư khác, tại khắp các đô thị trong cả nước theo bài bản tương tự: bên chủ đầu tư, đồng thời là người quản lý chung cư và cũng là chủ các công trình, thiết bị phục vụ như nhà để xe, hệ thống điện, nước, thang máy,… ấn định mức phí sử dụng dịch vụ trên trời; cư dân phản đối thụ động bằng cách không chịu đóng phí; thế là ban quản lý cắt dịch vụ và cư dân phản ứng.

Mấu chốt của câu chuyện, đồng thời cũng là mầm mống của xung đột, chính là việc chủ đầu tư giữ lại các công trình phụ gắn với nhu cầu thiết yếu trong sinh hoạt hàng ngày của những người sống trong chung cư. Khi chung cư được đưa vào khai thác, thì chủ đầu tư tổ chức việc sử dụng các công trình ấy trong khuôn khổ cung ứng dịch vụ, tiện ích phụ trợ và thu phí. Không khó để nhận ra tình trạng độc quyền trong mối quan hệ cung ứng dịch vụ loại này. Đáng nói nữa là các dịch vụ ấy là không thể thiếu cho cuộc sống bình thường của cư dân. Một cách tự nhiên, một khi chỉ có một mình một chợ, thì nhà cung ứng nào cũng có xu hướng tự tung tự tác: không hét giá, kênh kiệu, hách dịch thì mới lạ.

Một cách tự nhiên, một khi chỉ có một mình một chợ, thì nhà cung ứng nào cũng có xu hướng tự tung tự tác: không hét giá, kênh kiệu, hách dịch thì mới lạ.

Vấn đề đặt ra là tại sao các cơ quan nhà nước có liên quan đã biết mà không cho thấy có động thái gì đặc biệt để can thiệp kịp thời. Điều chắc chắn là không thể xem thường hiện tượng xung đột này. Trong điều kiện đất chật, người đông, phát triển chung cư được xác định là một trong những giải pháp tốt nhất cho bài toán nhà ở tại đô thị; nếu không nhìn nhận thấu đáo và giải quyết tận gốc mâu thuẫn giữa cư dân chung cư và chủ đầu tư, để nó bùng phát tràn lan, thì nguy cơ khủng hoảng xã hội là rất cao.

Ở các nước tiên tiến, luật pháp quy định rất... rõ ràng, mang tính bắt buộc rằng không cho phép các chủ đầu tư, khi tiến hành chung cư hoá, giữ lại các phần công trình, thiết bị được gọi là “yết hầu” của cơ thể chung cư, nghĩa là những thứ mà một người sống trong chung cư cần phải có để sống, như nhà xe, cầu thang, hệ thống điện,…

Nói khác đi, các công trình, thiết bị phục vụ gắn chặt với sinh hoạt hàng ngày của cư dân, theo đúng luật, phải là tài sản chung của mọi người. Theo đó, thông qua hội nghị nhà chung cư và bằng thảo luận, biểu quyết dân chủ, tập thể cư dân quyết định mọi vấn đề liên quan đến việc sử dụng các tài sản này, từ thể thức vận hành, khai thác, bảo quản, sửa chữa, cho đến mức đóng góp vật chất mà từng hộ chung cư phải thực hiện để được quyền sử dụng tài sản. Ban quản lý là người thừa hành của hội nghị nhà chung cư, có trách nhiệm tổ chức thực hiện các quyết định ấy một cách nghiêm chỉnh, đặc biệt là có quyền ngưng cung ứng dịch vụ cho những ai không thực hiện đầy đủ và đúng hạn nghĩa vụ đóng góp.

18:18 | Posted in | Read More »

KHÔNG THỂ NHÂN RỘNG MỘT CÁCH LÀM ĐỘC ÁC VÀ TÙY TIỆN

Công an quăng lưới bắt người vi phạm giao thông - Ảnh: Pháp luật TPHCM
Thực hiện Chỉ thị 04 của UBND Thành phố Thanh Hóa về đảm bảo trật tự an toàn giao thông, công an thành phố này đã áp dụng hình thức quăng lưới bắt người vi phạm giao thông. Họ còn cho biết thêm là sau khi nghiên cứu và kiểm nghiệm, sáng kiến này sẽ được nhân rộng trên phạm vi toàn quốc (Xem đầy đủ bài viết tại đây).

Thật lạ kỳ. Không ở đâu trên thế giới, trong thế kỷ 21 này mà cảnh sát giao thông bỗng trở thành "những người đánh bắt cá" trên cạn người vi phạm giao thông trở thành những "con cá mắc lưới" phản cảm, hài hước như ở thành phố Thanh Hóa này. 

Không rõ việc "quăng lưới bắt người" của công an thành phố này là dựa trên cơ sở qui phạm pháp luật nào của nhà nước. Khi áp dụng các biện pháp xử lý, chủ thể áp dụng pháp luật (cụ thể ở đây là công an thành phố Thanh Hóa) bắt buộc phải căn cứ vào "tính chất và mức độ" của hành vi vi phạm (Điều 3, Khoản 5, Pháp lệnh xử lý VPHC 2002, sửa đổi 2007, 2008). Hành vi vi phạm giao thông, nếu chỉ dừng lại là vi phạm hành chính thông thường, thì không có bất cứ lý do gì có thể áp dụng các biện pháp dành cho tội phạm nguy hiểm và trong tình thế cấp thiết được. Việc áp dụng biện pháp giăng lưới bắt người như ở TP Thanh Hóa kể trên rõ ràng là rất nguy hiểm và không tương xứng với một hành vi vi phạm hành chính thông thường.

Có người cho rằng đây là cách làm "độc đáo"(!?). "Độc đáo" hay "độc ác" khi việc quăng lưới của cảnh sát giao thông có thể khiến người vi phạm giao thông bị ngã, dẫn đến tử vong hoặc người vi phạm có thể đâm vào người đi đường khác gây tai nạn. Hậu quả này là hoàn toàn có thể xảy ra và nếu xảy ra thì ai sẽ là người chịu trách nhiệm?

Từ góc độ quản lý xã hội, cách làm này thể hiện lối nghĩ thiển cận và phản ánh sự bất lực của thành phố Thanh Hóa trong việc xử lý vi phạm. Người tham gia giao thông dù có vi phạm hành chính thì họ vẫn là người. Là người chứ không phải là "" mà tùy tiện dùng lưới để quăng bắt. 

Về xử lý những hành vi vi phạm giao thông, có lẽ nên học tập cách làm văn minh ở các nước tân tiến hiện nay. Một mặt chỉ dẫn, giáo dục và quản lý chặt chẽ các dữ liệu của người tham gia giao thông, mặt khác kiên quyết xử lý người vi phạm, tăng mức phạt đối với những người cố tình không chịu nộp phạt, bất chấp, coi thường pháp luật (Mời bạn đọc tham khảo cách làm ở Đức hiện nay mà tôi đã phần nào bình luận trong bài viết "An toàn và trật tự xã hội - nhìn từ hệ thống các biển báo ở Đức", đăng trên Tia sáng ngày 23/4/2011, để thấy rõ với cùng một vấn đề, nước họ xử lý như thế nào và ta thì xử lý như thế nào, cách làm nào sẽ nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân tốt hơn, cách làm nào sẽ khiến cho cảnh sát giao thông nhàn hơn mà hiệu quả vẫn cao hơn). 

NMT

Quăng lưới bắt... người vi phạm giao thông

 Tác giả: Nguyễn Dân, Thanh Lưu
Nguồn:  Bài viết Quăng lưới...bắt người vi phạm giao thông, 
Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh, đăng ngày 23/11/2011, 
truy cập tại:  http://phapluattp.vn/2011112211459115p0c1085/quang-luoi-bat-nguoi-vi-pham-giao-thong.htm
(PL)- Đây là “độc chiêu” được Công an Thanh Hóa áp dụng: Người vi phạm giao thông không dừng lại theo hiệu lệnh sẽ bị quăng lưới bắt cá vào bánh xe.


Gần một tháng nay, người dân TP Thanh Hóa vô cùng lạ mắt trước hình ảnh mới của lực lượng CSGT. Một tổ sáu người gồm CSGT, CSCĐ và dân phòng được trang bị thêm những tấm lưới đánh cá. Loại lưới cước sợi nhỏ được cuộn lại, một đầu quấn với một vật nặng, thường là gạch đá. Khi thấy người vi phạm giao thông không dừng lại theo hiệu lệnh, lực lượng này sẽ lập tức quăng lưới.


Chạy là bị tung lưới


Theo ghi nhận của chúng tôi, trên đoạn đường dài 2 km từ tượng đài Lê Lợi đến cầu Bố (đường Trần Phú, TP Thanh Hóa) có hàng chục tốp CSGT đứng trực tại các ngã ba, ngã tư. Các dân phòng đều trong tư thế chuẩn bị. Khi CSGT khoát tay ra hiệu là họ lao ra, tay lăm lăm lưới, động tác khom mình xuống thấp và quăng lưới ra như trò tạt lon của trẻ em. 


Ở một số giao lộ khác trong TP cũng có nhiều tốp CSGT đứng chốt chặn, tốp nào cũng mang theo một túi nylon màu đen lớn chứa các cuộn lưới này. 


Theo ông Nguyễn Văn Nghĩa, chủ một quán giải khát trên đường Trần Phú, quán của ông nằm ngay một ngã ba nên thỉnh thoảng có một tốp công an và dân phòng đứng trước để chặn người vi phạm. Trước khi nhóm này chuẩn bị tung lưới, CSGT sẽ nhận được thông tin của đối tượng qua bộ đàm. Ngay lập tức, một dân phòng chuẩn bị lưới trên tay. Khi thấy đối tượng đi qua, CSGT sẽ thổi còi ra hiệu cho xe vi phạm dừng lại. Nếu người điều khiển xe máy không chấp hành thì sẽ bị dân phòng quăng chiếc lưới vào gầm xe. Nếu quăng chính xác vào phần sau xe, đoạn lưới sẽ cuốn vào bánh sau. Sau một lúc loạng choạng, chiếc xe sẽ từ từ dừng lại. Sau đó, CSGT sẽ đến lập biên bản đối với chủ phương tiện, nếu lỗi nhẹ thì có thể gỡ lưới tại chỗ, lỗi nặng thì đưa xe vi phạm về trụ sở để xử lý.



Chiếc lưới bị quấn vào bánh sau 
khiến xe vi phạm không thể bỏ chạy được xa. Ảnh: NGUYỄN DÂN


Có thể gây tai nạn


Cũng theo ông Nghĩa, từ khi CSGT TP Thanh Hóa sử dụng biện pháp này, khách vào quán ông đã bàn tán rất nhiều. Có khá nhiều người ủng hộ vì cho rằng đó là phương án hiệu quả để giữ trật tự an toàn giao thông. Tuy nhiên, một số người lại phản đối kịch liệt vì cho rằng nó có thể gây tai nạn cho người vi phạm. Họ cũng đã thấy nhiều trường hợp do bị quăng lưới đã té ngã, bị thương. 


“Bản thân tôi cũng không ủng hộ biện pháp này vì thấy nó quá nguy hiểm không những cho đối tượng mà còn cho những người đang lưu thông bình thường khác. Ban ngày, đoạn đường này khá tấp nập nên việc quăng lưới một chiếc xe vi phạm sẽ rất dễ gây tai nạn cho những xe khác. Cạnh đó, tôi thấy biện pháp này thiếu tính nhân văn và làm hình ảnh của những người thi hành công vụ bị giảm sút” - ông Nghĩa nói.


Theo chị Nga, chủ hàng nước giải khát tại một ngã ba, nếu búi lưới quăng vào bánh sau thì có thể không sao nhưng nếu quăng vào bánh trước xe đang đi tốc độ cao thì vẫn rất nguy hiểm. Tôi đã thấy một trường hợp xe vi phạm bị tung lưới vào bánh trước khiến cả người lẫn xe bị hất tung. Chị Nga cho rằng việc ngăn chặn những đối tượng vi phạm để đảm bảo an toàn giao thông là rất tốt nhưng phải làm sao để đảm bảo tuyệt đối cho họ cũng như những người đi đường khác. 


Theo Thượng tá Lê Văn Ngọc, Phó Trưởng phòng Công tác chính trị và Công tác quần chúng Công an tỉnh Thanh Hóa, biện pháp này là một sáng kiến độc đáo của Công an TP Thanh Hóa, được áp dụng rộng rãi trong riêng địa bàn TP từ ngày 28-10 trong đợt cao điểm xử lý tình hình trật tự an toàn giao thông theo Chỉ thị 04 của Thành ủy. Biện pháp này chỉ áp dụng đối với những đối tượng không chấp hành hiệu lệnh của CSGT và bước đầu đang phát huy hiệu quả rất tốt. 


Ngưởi ủng hộ, người không


“Có thể nói đây là biện pháp hữu hiệu nhất từ trước tới giờ trong việc đảm bảo trật tự an toàn giao thông. Biện pháp này rất an toàn nếu lưới được quăng chính xác vào bánh sau. Tuy nhiên, nếu người vi phạm đi với tốc độ cao và cố lết để bỏ chạy thì có thể không tránh được việc té ngã. Tôi cũng có nghe có một số trường hợp người vi phạm bị xây xát nhẹ chứ chưa có tai nạn nào đáng tiếc xảy ra” - Thượng tá Ngọc khẳng định.


Cũng theo Thượng tá Ngọc, dù lãnh đạo tỉnh đã thông qua chủ trương cho phép thực hiện việc tung lưới bắt người vi phạm nhưng một số khác vẫn còn băn khoăn hoặc không ủng hộ. “Khi đưa ra một cái gì quá mới thì chắc chắn sẽ có hai luồng dư luận, điều này là không thể tránh khỏi. Chúng tôi cũng đã có văn bản báo cáo lên Bộ Công an, xin ý kiến chỉ đạo nhưng có lẽ chính lãnh đạo Bộ cũng đang cân nhắc nên chưa có văn bản phản hồi” - ông Ngọc cho biết.


Thượng tá Ngọc cho rằng biện pháp này không ảnh hưởng đến quyền cơ bản của công dân và chỉ là một thủ pháp nghiệp vụ của lực lượng công an. Những thủ pháp này có thể được linh động thực hiện để phù hợp với tình hình của địa phương.



Thực hiện Chỉ thị 04 của UBND TP Thanh Hóa về đảm bảo trật tự an toàn giao thông (và trấn áp một số loại tội phạm), công an TP đã huy động 150 dân phòng kết hợp với các lực lượng cảnh sát khác chia thành 20 nhóm để chốt chặn tại các điểm nóng và đều mang theo lưới. Theo lãnh đạo Công an TP Thanh Hóa, biện pháp này đã được sử dụng từ cuối năm 2009 để chuyên trấn áp các đối tượng đua xe, lạng lách, đánh võng vào ban đêm. Từ 28-10 vừa qua, việc quăng lưới mới bắt đầu được áp dụng rộng rãi và thực hiện vào ban ngày. Công an TP Thanh Hóa cho biết sau khi nghiên cứu và kiểm nghiệm, nếu đảm bảo về mặt khoa học cũng như thực tế, sáng kiến này sẽ được triển khai và phổ biến áp dụng trên phạm vi toàn quốc.


NGUYỄN DÂN - THANH LƯU

07:16 | Posted in | Read More »

BIỂU TÌNH LÀ Ý THỨC TỰ NHIÊN TRƯỚC ĐỒNG LOẠI

Tác giả: TS. Nguyễn Sỹ Phương, CHLB Đức
Nguồn: Báo Sài Gòn Tiếp Thị Online, 
đăng ngày 23/11/2011, truy cập tại đây

LTS: Ngày 17.11, khi thảo luận về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khoá XIII, dù nằm trong danh mục “chương trình chuẩn bị” (chứ không phải chính thức), nhưng một số đại biểu đã tranh luận khá gay gắt về luật biểu tình, về nguồn gốc, bản chất của hoạt động này, nhu cầu xã hội hiện nay cần – không cần một luật điều chỉnh về nó. Sài Gòn Tiếp Thị xin giới thiệu bài viết của TS Nguyễn Sỹ Phương, cung cấp những thông tin nền tảng về vấn đề này.

Biểu tình khác bạo động

Trước hết cần phân biệt khái niệm biểu tình với thực tế biểu tình muôn hình vạn trạng, nếu không, sẽ như thầy bói xem voi, sờ thực tế cái tai định nghĩa ngay voi là cái quạt. Ngoại diên của khái niệm biểu tình là nhiều người tập trung lại theo nghĩa tập họp, tụ tập. Nhưng khác với tụ tập để lao động trong nhà máy vì mưu sinh, hay hội hè để vui chơi, đám ma đám cưới chia sẻ tình cảm gia đình, bán buôn trong chợ búa kiếm lời, hoặc bị tống tù do phạm tội, tụ tập biểu tình có nội hàm: xuất phát từ tâm, cùng nhau biểu thị tình cảm (biểu tình), thái độ, quan điểm của mình. 

Như vậy, có ba dấu hiệu để phân biệt biểu tình với các khái niệm khác có cùng ngoại diên tụ tập: 1- Biểu thị, 2- Tự nguyện, 3- Xuất phát từ tâm. 

Căn cứ ba dấu hiệu trên, có thể xác định khi nào thì được gọi là biểu tình. 

Nếu tụ tập nhưng có sử dụng bạo lực, hoặc có hành vi xâm phạm lợi ích người khác, thì đó là bạo động, chứ không phải biểu tình. Giải thích tại sao nhiều cuộc biểu tình ở các nước hiện đại, đoạn chót bị đàn áp, cưỡng chế giải tán, do bị biến thành bạo động; đàn áp lúc đó là đàn áp bạo động chứ không phải đàn áp biểu tình.
Nếu tụ tập là do được trả tiền, được thuê mướn, hoặc cưỡng bức người khác, nghĩa là không tự nguyện, không phải từ tâm, thì đó là bè đảng, hoặc hình sự, không phải biểu tình. 

Biểu tình chỉ có thể biểu thị bằng hiện diện, hình ảnh, tiếng nói, vì vậy nếu nhằm mục đích “chống lại“, thì phải hiểu chống lại bằng cách biểu thị, tức phản đối, hoàn toàn khác với chống đối mang tính loại bỏ như bạo động.

Là quyền cơ bản, không phụ thuộc dân trí

Biểu tình xuất phát từ “ý thức tự nhiên trước đồng loại“. “Tự nhiên“ nghĩa là bản năng, không phụ thuộc bất cứ yếu tố bên ngoài nào. Còn “ ý thức“ chỉ có ở con người. Biểu tình, vì vậy, là một dấu hiệu thuộc tính riêng có của con người, phân biệt với thế giới sinh vật còn lại, hoàn toàn không phụ thuộc trình độ nhận thức. Do đó, biểu tình không như có ý kiến ngộ nhân tuỳ thuộc dân trí, để khẳng định nước nào biểu tình được, nước nào không thể. Ngay cả nếu thừa nhận điều đó, thì cũng mâu thuẫn với sử liệu thế giới, biểu tình được ghi lại từ thời La Mã cổ đại. Không quốc gia nào ngày nay thấp hơn dân trí Lã Mã thời đó cả.

Biểu tình ở các nước hiện đại gắn với cuộc sống thường nhật như ăn, ở, đi lại, học hành, chữa bệnh, làm việc, diễn ra có khi chỉ bởi hiện tượng một đưá con bị cha mẹ lạm dụng khủng khiếp hay một người đi tàu bị kẻ xấu giết dã man gây bất bình dân chúng, hoặc bởi các chính sách nhà nước ảnh hưởng lợi ích của bộ phận, giai tầng nào đó, buộc họ phải phản đối, hay chính phủ, các cơ quan công quyền tỏ ra bất lực, họ phải thể hiện bất tín nhiệm, hoặc bởi nhân quyền ở các nước khác vi phạm làm họ xót xa phải chia sẻ. Vì vậy, không thể gán cho biểu tình chỉ mỗi “chống Chính phủ nước mình hay một chủ trương của Chính phủ nước mình“, và càng không thể hiểu chống theo nghĩa chống đối. Ngộ nhận đó tất yếu dẫn tới hành vi ứng xử với biểu tình cực đoan. Chính để khắc phục nguy hại đó, Luật tụ tập biểu tình Đức VersammlG cấm biểu tình đòi hủy bỏ quyền biểu tình!

Câu hỏi đặt ra cho Quốc hội không còn là có cần ban hành luật biểu tình hay việc ban hành luật này có gây tổn hại gì. Câu hỏi bây giờ là luật biểu tình phải đặt ra những chuẩn mực, thước đo, quy tắc xử sự như thế nào cho cả chính quyền lẫn người biểu tình, để quyền hiến định này được thực thi và trong trường hợp bạo động xảy ra, sẽ chế tài kịp thời.

Biểu tình cũng như ăn ở, đi lại, làm việc… là bản năng, thuộc tính con người, nên trở thành quyền cơ bản “tạo hoá ban cho họ“, chứ không phải nhà nước, hay tôn giáo, hay bất cứ thế lực nào. Một khi đã là quyền cơ bản, thì một mặt các quyền đó bình đẳng ngang nhau ở chỗ đều mang tính chất bản năng thuộc tính người, mặt khác chúng tự động trở thành đối tượng chi phối của luật pháp, nghĩa là thuộc chức năng trách nhiệm của chính quyền phải bảo đảm.

Vì vậy không thể đặt câu hỏi “Liệu cái gọi là quyền biểu tình ấy có lớn hơn quyền được kiếm sống của người dân…“, như đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước phát biểu, trong khi cả hai đều là bản năng như nhau. Còn trong thực tế, đúng là có những cuộc biểu tình “xâm hại quyền tự do đi lại của người dân, xâm hại quyền tự do mưu cầu hạnh phúc của người dân, buôn gánh bán bưng“, cũng giống như quyền làm việc có khi gây ô nhiễm môi trường, quyền tự do ăn uống nhưng khi bị bệnh lại lây nhiễm sang người khác, quyền đi lại bằng xe cộ, lại dẫn tới tai nạn chết người, nhưng không vì thế mà cấm hết những quyền đó. Ngược lại, vì thế mà loài người bắt buộc phải sinh ra nhà nước, cũng để bảo đảm quyền nọ không triệt tiêu quyền kia. Các luật liên quan tới quyền cơ bản, như luật biểu tình, lưu trú, giao thông, vệ sinh thực phẩm, trở thành tất yếu khách quan là vậy.

Ứng xử với quyền biểu tình

Là đối tượng điều chỉnh của luật pháp, biểu tình được các nước chọn lựa cách giải quyết xưa nay như sau: 

Thứ nhất, không đả động đến. Trong trường hợp đó, người dân biểu tình hay không, nhà nước cho phép hay đàn áp, đều hoàn toàn tự phát và tùy tiện xử lý, hậu quả là cả nhà nước và công dân đều thiệt hại. Cuối cùng vẫn buộc phải đề cập đến nó theo những cách thức dưới đây.

Thứ hai, không thừa nhận quyền biểu tình và cấm tuyệt đối nó, thường xảy ra ở những chế độ quân chủ độc tài. Lịch sử thế giới đã chứng minh sự sụp đổ tất yếu của nó, bởi không thể tước bỏ thuộc tính người vốn dĩ chỉ có ở con người.

Thứ ba, hiến định quyền biểu tình nhưng thiếu luật điều chỉnh. Nước Đức từng xảy ra như vậy trong bốn năm sau khi ban hành Hiến pháp năm 1949. Kết qủa, biểu tình vẫn được tổ chức như vốn có, không hề thay đổi, bởi đã được hiến định, nhà nước không thể cấm. Tuy nhiên, chính quyền không chủ động ngăn ngừa trước được thiệt hại hay biến thái thành bạo động có thể xảy ra, và khi xảy ra thì xử lý lúng túng, phải áp dụng luật dân sự hoặc luật hình sự phức tạp.

Thứ tư, hiến định quyền biểu tình, bảo đảm quyền này bằng toà Bảo hiến và ban hành văn bản lập pháp bảo đảm chắc chắn nó. Đó là lựa chọn duy nhất hiện nay ở các nước hiện đại. Hiến pháp và toà Bảo hiến buộc nhà nước phải bảo đảm thực thi quyền cơ bản của công dân trong đó có quyền biểu tình. Bởi nói nhà nước dân chủ, của dân, do dân, vì dân, rốt cuộc cũng chỉ nhằm bảo đảm quyền cơ bản cho họ, chứ không phải thay họ lo cho cuộc sống của họ, vốn chưa và không nhà nước nào làm nổi. Ngược lại, quyền cơ bản một khi được bảo đảm sẽ kích thích người dân không ỷ lại mà làm chủ nhà nước, sử dụng quyền đó để vừa tham gia vừa đòi hỏi các công bộc nhà nước hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách sao cho phù hợp với nhu cầu của mình. Nhà nước không phải thánh, cái gì cũng đúng, vì vậy mọi chính sách của nó cần được thực tế kiểm nghiệm, không đâu chính xác hơn ngoài chính người dân chịu sự chi phối trực tiếp của chính sách, mà biểu tình là sự phản ảnh tập trung nhất. Điều này giải thích tại sao các nước hiện đại khuyến khích biểu tình, phản biện, trưng cầu dân ý, và bất cứ quyết định nào của cơ quan hành chính từ phạt xe chạy phạm luật đến mức thuế phải đóng, giải quyết các đơn từ, đều bắt buộc phải có phần hướng dẫn, ông bà có quyền chống lại quyết định này tại cơ quan nào, ở đâu, nếu vẫn không thoả mãn thì tại toà án nào. Nhờ có Luật biểu tình, những biến thái chuyển sang bạo động sẽ được tham chiếu với các quy phạm trong luật biểu tình để ngăn ngừa. Toà Bảo hiến sẽ bảo đảm cho luật hoặc văn bản dưới luật ban hành không thể vi hiến, nếu Chính phủ muốn “nhẹ gánh“ bằng cách ban hành luật hạn chế quyền biểu tình.

Thứ năm, hiến định quyền biểu tình, nhưng chưa có toà án hiến pháp bảo đảm và thiếu văn bản lập pháp điều chỉnh. Đó là trường hợp ở nước ta (xem điều 69 Hiến pháp 1992). Các cuộc biểu tình ở Thái Bình trước đây đã gây hậu quả thiệt hại cho cả người biểu tình lẫn nhà nước, xử lý rất phức tạp hay biểu tình ở Hà Nội vừa qua dẫn tới phiền lụy cho chính những người biểu tình “thể hiện lòng yêu nước“, lẫn chính quyền vì mất công sức xử lý nhưng thiếu văn bản lập pháp làm cơ sở, thấy hệ lụy tất yếu phải đến của cách chọn lựa trên. Nếu cứ để thế mãi chưa biết tình hình sẽ tiến triển tới đâu? Đề xuất cần có luật biểu tình của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp đó, là phản ứng cần thiết, kịp thời, thể hiện bản lĩnh chính trị cần có của người đứng đầu Chính phủ ở các quốc gia hiện đại trước bức xúc của dân chúng. 

Câu hỏi đặt ra cho Quốc hội-có chức năng lập pháp- không còn là có cần ban hành luật biểu tình hay việc ban hành luật này có gây tổn hại gì. Câu hỏi bây giờ là luật biểu tình phải đặt ra những chuẩn mực, thước đo, quy tắc xử sự như thế nào cho cả chính quyền lẫn người biểu tình, để quyền hiến định này được thực thi và trong trường hợp bạo động xảy ra, sẽ chế tài kịp thời. Trả lời câu hỏi trên không qúa khó khăn, nếu nghiên cứu luật biểu tình các nước, cùng khảo sát thực tế biểu tình ở họ vốn diễn ra thường nhật. Đó chính là căn cứ thực tiễn thế giới để tham khảo xây dựng luật biểu tình.

00:29 | Posted in , | Read More »