BÀN THÊM VỀ VẤN ĐỀ QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC LÀ THỐNG NHẤT, NHƯNG CÓ SỰ PHÂN CÔNG PHÂN QUYỀN VÀ PHỐI KẾT HỢP GIỮA BA QUYỀN LẬP PHÁP, HÀNH PHÁP VÀ TƯ PHÁP

Montesquieu (1689-1755)
Tác giả: NGUYỄN ĐĂNG DUNG*
*GS.TS luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội
Tạp chí Khoa học pháp lý, số 6/2007, truy cập tại đây




Học thuyết phân quyền kể từ khi ra đời cho đến khi được Montesquieu nâng lên thành học thuyết phân quyền trong thời kỳ Khai sáng những năm đầu tiên của Cách mạng tư sản Pháp đã trở thành xương sống của việc tổ chức quyền lực nhà nước khắp nơi trên thế giới. Phân quyền như là một đòi hỏi của dân chủ. Phân quyền như là một nội dung chính của Hiến pháp. Ở đâu không phân quyền thì ở đó không có Hiến pháp. Ở Việt Nam, trong những năm dài của cơ chế tập trung, chúng ta không thừa nhận sự áp dụng học thuyết phân quyền cho nên học thuyết phân quyền đối với chúng ta là rất xa lạ, hầu như không biết hoặc biết rất ít về học thuyết này cũng như áp dụng nó trong tổ chức cơ cấu của nhà nước tư sản.

Cho đến nay, với công cuộc đổi mới, mở cửa, và nhất là với công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền, những hạt nhân hợp lý trong học thuyết phân quyền đã được chúng ta ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001. Điều 2 của Hiến pháp quy định rõ:“Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Từ chỗ phủ nhận hoàn toàn đến thừa nhận cho dù chỉ là một trong những hạt nhân nhỏ bé của học thuyết là cả một bước chuyển rất lớn trong nhận thức của chúng ta là đã đến lúc phải áp dụng một cách tương đối sự phân quyền. Từ đó không ít người kể cả các chuyên gia luật học, chính trị học và cả những chính khách trên các phương tiện thông tin đại chúng đều có quan điểm cho rằng: Lập pháp phải do Quốc hội đảm nhiệm và hành pháp thì phải do Chính phủ đảm nhiệm theo đúng tinh thần lời văn của Hiến pháp. Thậm chí không ít người có ý kiến cho rằng cần phải chuyển mọi hoạt động có liên quan đến lập pháp, từ việc soạn thảo cho đến việc thông qua dự thảo luật cho Quốc hội, Chính phủ từ nay chỉ tập trung vào công tác hành pháp, tức là điều hành đất nước theo quy định của lập pháp đã được Quốc hội thông qua.

Quan niệm này có phần hơi tả, từ một thái cực này sang một thái cực khác. Thực tế sự phân quyền theo cách nói của nhà nước tư sản và phân công, phân nhiệm giữa lập pháp và hành pháp theo cách nói của Việt Nam chúng ta hiện nay không hoàn toàn có nghĩa như vậy. Mà ngược lại hoạt động của hành pháp có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của lập pháp. Thậm chí Nghị viện lập pháp theo nhu cầu của Chính phủ - hành pháp.

Hãy nhìn lại lịch sử tổ chức bộ máy nhà nước thời kỳ cận hiện đại và hiện đại của các nhà nước điển hình, rất dễ dàng nhận thấy tính đúng đắn của nhận định trên. Tổ chức và hoạt động của lập pháp và hành pháp trên thực tế không có sự phân định một cách cứng nhắc theo tinh thần của học thuyết phân quyền, mà chúng có quan hệ mật thiết với nhau. Các hình thức quan hệ này quan trọng đến mức tạo thành mô hình tổ chức của nhà nước mỗi quốc gia. Đó là chính thể nhà nước: Chính thể đại nghị kể cả cộng hòa lẫn quân chủ; Chính thể cộng hòa tổng thống và chính thể cộng hòa hỗn hợp của sự pha trộn những đặc tính của hai loại hình đại nghị và cộng hòa tổng thống.

Thứ nhất, theo cách thức tổ chức của nhà nước đại nghị, lấy Anh quốc là điển hình, Chính phủ - hành pháp và Quốc hội/ Hạ nghị viện – lập pháp đều cùng phản ánh ý chí của đảng cầm quyền. Đảng cầm quyền là đảng chiếm đa số ghế trong Quốc hội thông qua một cuộc đầu phiếu phổ thông bầu ra Nghị sỹ Quốc hội, có quyền đứng ra thành lập Chính phủ. Thủ lĩnh của Đảng cầm quyền sẽ là Thủ tướng Chính phủ. Các thành viên của Chính phủ về nguyên tắc đều là những người có chân trong ban lãnh đạo của đảng cầm quyền. Với nguyên tắc nghị sỹ của đảng nào chỉ được bỏ phiếu cho ý chí của đảng đó, cộng với quyền trình dự án luật trước Quốc Hội, nên gần như có một nguyên tắc là mọi dự luật đều xuất phát từ Chính phủ - hành pháp. Mọi hoạt động của Quốc hội – lập pháp và Chính phủ - hành pháp đều do đảng cầm quyền quyết định. Quốc hội chỉ còn lại công việc là kiểm soát Chính phủ và sẵn sàng thay đổi Chính phủ đang cầm quyền của đảng đối lập. Theo con số thống kê của nhiều nghị viện, có tới hơn 90% tổng số các dự án luật được Quốc hội/Nghị viện thông qua là dự án đệ trình từ Chính phủ.

Thứ hai, sự can thiệp hay là sự chủ động đề xuất các hoạt động lập pháp của hành pháp không chỉ được thể hiện ở các nước mà bộ máy được tổ chức theo thể chế đại nghị, mà cũng còn được thể hiện trong các nhà nước có tổ chức bộ máy nhà nước theo chế độ tổng thống như Mỹ quốc. Nếu Hiến pháp của các nước đại nghị quy định rõ sự can thiệp của hành pháp vào lập pháp như quyền trình dự án luật trước lập pháp của hành pháp, thì trong thể chế của nhà nước theo chế độ tổng thống không cho phép hành pháp và lập pháp có sự phối kết hợp với nhau như vậy. Một trong những biểu hiện này là việc quy định hành pháp không được quyền trình dự án luật trước Quốc hội – lập pháp. Quyền lập pháp được quy định dành riêng cho cơ quan lập pháp ngay từ khi có sáng quyền lập pháp. Chỉ các nghị sỹ thượng và hạ nghị viện mới có quyền này. Trong khi đó các cơ quan hành pháp và cả người đứng đầu nhà nước đều không được có quyền trình dự án luật trước nghị viện. Đây là một trong những quy định tạo nên tính cứng rắn của việc áp dụng học thuyết phân quyền của các nhà nước theo chính thể cộng hòa tổng thống. Nhưng trong thực tế, bằng các con đường không chính thức, tổng thống – người đứng đầu hành pháp can thiệp rất sâu vào quá trình lập pháp của Quốc hội. Ví dụ như việc đọc thông điệp hàng năm trước Quốc hội Mỹ (khoảng tháng Giêng), Tổng thống đã gửi yêu cầu lập pháp của mình sang cho Quốc hội – Lập pháp. Hoặc bằng con đường trình dự án luật của các đảng viên cùng đảng của mình, Tổng thống, người nắm quyền hành pháp, can thiệp đến chương trình lập pháp của Quốc hội. Cuối cùng là bằng con đường phủ quyết (veto), tổng thống ngăn cản việc ban hành những đạo luật không phù hợp với ý chí của mình. Chính vì những lẽ đó mà trong một bài viết về “Quyền lập pháp của Tổng thống ”, ông Stephen Wayne đã viết: “Khái niệm về một Tổng thống có quyền lập pháp đã được phổ biến kể từ sau Chiến tranh thế giới Thứ hai. Từ đó đến nay vai trò này đã được thiết chế hóa, được thể hiện không chỉ vì cá tính độc đáo của một vị Tổng thống, một hoàn cảnh đặc biệt nào, mà chính là vì mọi người, trong đó có Quốc hội, báo chí, và công chúng trông đợi điều này.”[1]

Như vậy, qua những điều đã phân tích ở trên chúng ta rất dễ nhận thấy rằng, cho dù được tổ chức theo mô hình đại nghị, hay được tổ chức theo mô hình của chế độ tổng thống, thì lập pháp và hành pháp vẫn không có sự phân chia tuyệt đối với nhau, như cách hiểu của nhiều người ở nước ta hiện nay. Mặc dù có sự phân quyền nhưng hành pháp vẫn can thiệp sang lĩnh vực lập pháp, thậm chí các hoạt động lập pháp lại còn là nhu cầu của hành pháp. Bản thân Quốc hội không có nhu cầu của sự lập pháp.

Câu hỏi đặt ra là, tại sao lại như vậy? Và tại sao cứ nói đến cơ cấu tổ chức nhà nước người ta nói đến phân quyền như là một đòi hỏi tất yếu khách quan của một nhà nước dân chủ? Và cũng chính vì lẽ đó mà trong công cuộc đổi mới hiện nay, sau một thời gian dài tuyệt đối không áp dụng nguyên tắc phân quyền trong tổ chức hoạt động nhà nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam, lại cố gắng thực hiện sự phân công, phân nhiệm giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Những năm trước đây trong lý luận của chúng ta đều khẳng định tập quyền là một nguyên tắc tổ chức và hoạt động nhà nước, nhưng cả 4 bản Hiến pháp được thông qua đều quy định một cách rõ ràng rằng, Quốc Hội có chức năng lập pháp, Chính phủ - hành pháp và Tòa án - xét xử. Và ngược lại, cứ nói đến nhà nước tư sản thì nguyên tắc của họ là phân quyền? Nhưng thực tế như nêu ở trên cho thấy giữa chúng vẫn có sự phối kết hợp với nhau, thậm chí lập pháp làm luật theo nhu cầu của hành pháp.

Câu trả lời không phải là dễ, nhưng điểm cần phải có trong câu trả lời là, đó là yêu cầu của dân chủ. Trong một nhà nước dân chủ, sự quản lý của nhà nước phải theo pháp luật. Chính phủ hành pháp chỉ hoạt động trên cơ sở của các đạo luật. Việc điều hành đất nước của hành pháp không dựa trên cơ sở của luật pháp là biểu hiện của một nhà nước độc tài, chuyên chế. Mà quyền thông qua luật là của Quốc hội, người đại diện của nhân dân. Mặc dù trên thực tế không hoàn toàn tuân thủ theo nguyên tắc phân quyền, quyền lực có xu hướng tập trung cho hành pháp, nên đòi hỏi tuân theo nguyên tắc này như vẫn là một tiêu chí của dân chủ. Đó là lý do giải thích vì sao ở mọi nhà nước tư sản luôn luôn có chủ trương phân quyền. Vì họ hiểu rằng mọi sự tập trung quyền lực ở đâu đó đều có nguy cơ của một sự độc tài và chuyên chế. Dân chủ được định nghĩa rất khác nhau, nhưng cuối cùng vẫn là sự cho phép nhân dân thay đổi chính phủ.[2]

Sự hợp lý của nhu cầu lập pháp của hành pháp còn thể hiện ở chỗ, chính thông qua các đề xuất lập pháp mà hành pháp có khả năng triển khai các chủ trương chính sách của đảng cầm quyền nằm trong chương trình tranh cử của họ trước nhân dân... Vì vậy, ở đây rõ ràng là nhu cầu lập pháp nằm trong tay hành pháp chứ không phải hoàn toàn nằm trong tay lập pháp. Trên thực tế ở đây không có một phân quyền tuyệt đối giữa lập pháp và hành pháp. Khi nghĩ ra học thuyết phân quyền các nhà tư tưởng hầu như không phát hiện ra vấn đề có sự phối kết hợp lẫn nhau giữa lập pháp và hành pháp trên thực tế sôi động sau này của hoạt động nhà nước dân chủ tư sản.

Bản thân khái niệm “điều hành” của Chính phủ, buộc Chính phủ phải có các dự án luật cho Quốc hội. Không những thế sự ảnh hưởng của Chính phủ - hành pháp sang hoạt động Quốc hội - lập pháp còn vượt ra khỏi chương trình lập pháp của Quốc hội, mà còn sang tất cả các lĩnh vực khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội. Thậm chí trong nhiều trường hợp Chính phủ còn quyết định cả chương trình làm việc của Quốc hội. Đó là kinh nghiệm của nhiều nước phát triển như Pháp, Anh, Mỹ... Ở Pháp, Quốc hội không có chương trình kỳ họp riêng mà chương trình đó do Chính phủ ấn định. Nghe ra có vẻ rất vi phạm dân chủ, nhưng nghĩ thực ra thì đúng là như vậy[3]. Vì nguồn lực và ưu tiên của nhà nước chỉ có một không thể cùng một lúc cùng chia cho Quốc hội lẫn Chính phủ. Chính vì vậy trong tác phẩm chuyên luận Logic chính trị Mỹ, Samuel Kernell và Gary C. Jacohson, đã viết: “Câu cách ngôn mà mà Tổng thống Franklin Roosevelt đưa ra – “Mưu sự tại Tổng thống, thành sự tại Quốc hội” – đã mô tả chính xác một khía cạnh quan trọng trong vai trò của Tổng thống thời kỳ hiện đại, khía cạch mà nhà Lập hiến trước kia không dự tính khi đặt họ vào cuối quy trình lập pháp. Tuy nhiên sự gia tăng nhiệm vụ hành pháp của tổng thống, cùng với việc Quốc hội ủy quyền tự quyết cho tổng thống, đã bảo đảm rằng Quốc hội sẽ xem xét thật kỹ lưỡng các kiến nghị lập pháp của Tổng thống. Quốc hội bắt đầu cân nhắc toàn bộ ngân sách quan trọng hàng năm chỉ sau khi Tổng thống đệ trình các kiến nghị về thuế và chi tiêu của Chính phủ cho năm tài khóa tiếp theo, kèm theo các mục chi tiêu dự kiến của từng cơ quan liên bang. Tổng quát hơn, các nhà lập pháp hy vọng Tổng thống tư vấn cho họ những vấn đề chính sách hiện hành và công việc hành pháp và kiến nghị những điểm sửa đổi để nâng cao hoạt động. Tổng thống và những người được bổ nhiệm quản lý các cơ quan hành pháp liên bang, có lợi thế về thông tin, vì gắn liền với lợi thế về thông tin, gắn liền với quyền được ủy thác cũng có thể làm cho hành pháp giành được lợi thế khi kiến nghị dự luật. Đôi khi tổng thống cũng có thể nâng cao khả năng thành công của dự luật họ mong muốn bằng cách không để các nhà lập pháp biết một số thông tin nhất định, nếu những người này ủng hộ một số chính sách mà tổng thống phản đổi. Bằng nhiều cách, vai trò hành pháp trung tâm của các tổng thống thời kỳ hiện đại bảo đảm cho họ có được vị trí chủ chốt trong quá trình lập pháp. Kết quả là, không có gì ngạc nhiên khi các ủy ban và tiểu ban của Quốc hội xem xét, đánh giá tới 90 % các sáng kiến của tổng thống.”[4]

Những điều phân tích trên là những biểu hiện của sự thống nhất quyền lực nhà nước, mà các nhà nghiên cứu lý thuyết cũng như thực tiễn của hệ thống nhà nước tư bản chủ nghĩa mặc dù đều thừa nhận sự áp dụng học thuyết phân quyền không thể bỏ qua.

Vậy thì Quốc hội/Nghị viện vẫn mang danh là cơ quan lập pháp còn lại là gì? Còn lại là trách nhiệm chỉnh lý các dự án luật của Chính phủ đệ trình theo ý chí của người dân, mà Quốc hội/Nghị viện là người đại diện,[5] và là kiểm tra giám sát việc thực thi các chính sách đã được Nghị viện/Quốc hội thông qua. Câu chuyện lịch sử dưới đây là một minh chứng:

Thuở ban đầu của nhà nước dân chủ tư sản Anh quốc, người ta cũng quan niệm rằng quyền lập pháp nằm trọn trong tay Nghị viện. Nhưng sau đó với sự vận động của tiến trình dân chủ, quyền trình dự án luật rơi dần về tay của Chính phủ - hành pháp. Thông qua việc trình dự án luật, Chính phủ thể hiện rõ những quan điểm chủ trương chính sách của mình (chính sách chủ trương của đảng cầm quyền). Việc chấp nhận chính sách cũng đồng thời hình thành dần dần trên cùng một cấp độ và cùng một lúc với việc thành lập ra Chính phủ. Mãi đến những năm đầu của thế kỷ XX, mới thống nhất được quan điểm này: “Các ông đã chấp nhận chúng tôi, thì cũng phải chấp nhận luôn cả chính sách của chúng tôi. Các ông không thể chỉ chọn lựa chính sách của chúng tôi mà lại không có chúng tôi, không chỉ lấy một cái này, mà lại bỏ cả cái kia kèm theo được.

- Một là nhận, thì nhận cả luôn,

- Hai là bỏ, thì bỏ cả luôn.”

Năm 1946, ông Herbert Morrison cựu Phó Thủ tướng Anh quốc đã tuyên bố như vậy. Và chính ông cũng tự nhận thấy trách nhiệm cai trị thường xuyên của Chính phủ đối với đất nước, mà không phải Quốc hội/Nghị viện. Ông cho rằng:

“ - Ai chịu trách nhiệm về việc cai trị thường xuyên, Chính phủ hay là Quốc hội?

- Tôi xin nói các ngài rằng, Chính phủ phải chịu trách nhiệm... Công việc của Quốc hội là kiểm soát Chính phủ, hất bỏ nó đi nếu muốn, cứ việc tấn công nó, phê bình nó.(Tôi nhấn mạnh – NĐD)

- Ví Quốc hội không phải là cơ quan được tổ chức ra để coi việc cai trị thường xuyên,

- Nếu có, thì không ở xứ này.” [6]

Chế định chịu trách nhiệm này được hình thành ra như vậy trong lịch sử của Anh quốc, mà không bằng một đạo luật nào của họ ghi nhận. Mãi về sau này chế định quan trọng nói trên mới được các Hiến pháp của nhiều nước ghi nhận, và chính nó trở thành một nguyên tắc quan trọng bậc nhất của mô hình chính thể đại nghị kể cả của các nền cộng hòa và của quân chủ lập hiến. Đây cũng là cơ sở pháp lý của việc giải tán Quốc Hội và lật đổ Chính phủ, mà trả lại quyền thành lập chính phủ mới của người dân.

Kết luận, cho dù việc tổ chức nhà nước theo mô hình phân quyền nào đi chăng nữa, thì hành pháp vẫn can thiệp sang lĩnh vực lập pháp, thậm chí lập pháp là nhu cầu của hành pháp. Đó là một quy luật của việc tổ chức quyền lực nhà nước thời hiện đại mà chúng ta trong việc tiếp thu các kinh nghiệm của các nước trên thế giới không thể bỏ qua.








[1] Stephen Wayne, Quyền lập pháp của Tổng thống. New York. Harper và Row, 1978.

[2] Xem: Tuyên ngôn độc lập nước Mỹ, 1776.

[3] Xem, Bài phát biểu của Ông Christophe Palles, Giám đốc Trung tâm Thư viện của Quốc hội Pháp ngày 20/11/2007, Văn phòng Quốc hội Việt Nam.

[4] Samuel Kernell và Gary C. Jacohson, Logic chính trị Mỹ, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội , 2007 (tr. 123).

[5] Xem: Triết lý Lập pháp của Nguyễn Sỹ Dũng, Tạp chí Tia sáng, số 7 năm 2003.

[6] Xem: Robert E. Ward and Roy C. Macridis, Modern Political Systems Europe, Prentic, Hall, Inc Englewood Cliffs, New Jersey Libary of Congress Catalog No 63 . 11095, p. 156.

17:07 | Posted in | Read More »

BẢN CHẤT VÀ NGUỒN CỦA LUẬT HỒI GIÁO

Tác giả: ĐỖ THỊ MAI HẠNH*
 ThS. Đại Học Luật TP. Hồ Chí Minh  
TẠP CHÍ KHPL SỐ 3(34)/2006, truy cập tại đây
Tỷ lệ số dân theo Đạo Hồi trên thế giới - Ảnh: Wikipedia

Trên thế giới có nhiều hệ thống pháp luật cùng tồn tại. Đó là hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa, hệ thống pháp luật Thông luật, hệ thống pháp luật Xã hội chủ nghĩa và hệ thống pháp luật Tôn giáo (hay còn gọi là hệ thống Luật Hồi giáo). So với các hệ thống pháp luật khác, hệ thống Luật Hồi giáo luôn là một bí ẩn đối với giới luật gia. Hiện nay, ở Việt Nam, các thông tin về nguồn gốc và đặc điểm nguồn luật của hệ thống pháp luật này qua các tài liệu còn tương đối hiếm và không thống nhất. Vì vậy, trong bài viết, tác giả muốn giới thiệu thật cô đọng về hệ thống Luật Hồi giáo, đặc biệt là xác định bản chất và nguồn của hệ thống pháp luật này.

I. Về bản chất của Luật Hồi giáo 
Trước hết cần hiểu đúng về Đạo Hồi và Luật Hồi giáo. Cũng như Đạo Phật, Đạo Chúa,... Đạo Hồi là một tín ngưỡng tôn giáo. Đạo Hồi khuyên các tín đồ sống, làm việc thiện để sau này có một cuộc sống tươi đẹp, hạnh phúc ở cõi vĩnh hằng. Các tín đồ theo Đạo Hồi phải thực hiện những nghĩa vụ như: ăn chay, cầu nguyện, bố thí, hành hương và sống theo những lời răn dạy của thánh Alla trong Kinh Qu’ran (Koran).[1] Nếu làm được như vậy, họ sẽ có một cuộc sống vĩnh hằng hạnh phúc ở thiên đường.
Luật Hồi giáo, theo nghĩa gốc bằng tiếng Arập được phiên âm sang tiếng Latinh, là Luật Shari’ah - nghĩa là con đường đúng” (the right path) hoặc là sự hướng dẫn (guide)[2]. Đây các quy phạm tôn giáo được nâng lên thành quy phạm pháp luật được các quốc gia trong hthống Luật Hồi giáo (điển hình như Afghanistan, Pakistan, Kowait, Bahrain, Quatar, Arập Xêut)[3] áp dụng để điều chỉnh các vấn đề phát sinh trong xã hội.
Hai yếu tố cơ bản, tiên quyết để xác định một quốc gia thuộc hthống Luật Hồi giáo bao gồm: Đạo Hồi là quốc đạo của quốc gia, quốc gia lấy các quy định trong Kinh Thánh của Đạo Hồi làm luật. Chính vì vậy Thổ Nhĩ Kỳ, dù là nước có Đạo Hồi là quốc đạo, nhưng vẫn là quốc gia thuộc hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa vì ở quốc gia này Đạo Hồi chỉ được coi là tôn giáo[4] chứ không phải là luật.
Đặc điểm mấu chốt của sự khác biệt giữa hệ thống Luật Hồi giáo với các hệ thống pháp luật thế giới khác là ở các quốc gia áp dụng Luật Hồi giáo không có sự tách rời giữa nhà thờ và nhà nước (church and state). Ở đây, chính trị thần quyền (chế độ cai trị của các tăng lữ, trong đó các luật lệ của nhà nước được tin tưởng là luật lệ của Chúa Trời) bao trùm và điều chỉnh các vấn đề mang tính chất công và tư. Cũng chính từ học thuyết này, Shari’ah là luật Thánh Alla ban hành, không biến đổi và được nhà nước áp dụng cho mọi thời đại; nói khác đi, nhà nước, luật pháp và tôn giáo chỉ là một. Khái niệm này có thể hiểu ở mức độ khác nhau giữa các quốc gia, nhưng luật pháp, chính quyền đều dựa vào khái niệm đó và là một phần của tôn giáo Đạo Hồi[5].
Hiện nay có trên 1.2 tỉ người theo Đạo Hồi (chiếm khoảng 20% dân số thế giới).[6] Đa số những người theo Đạo Hồi sống ở hơn 50 quốc gia có luật pháp là Luật Hồi giáo hoặc ảnh hưởng chủ yếu bởi Luật Hồi giáo.[7] Số còn lại, là các tín đồ của Đạo Hồi nhưng sống ở những quốc gia chỉ coi Đạo Hồi thuần túy là một hình thức tôn giáo. Tuy không thể nói một cách chính xác có bao nhiêu người thực sự bị ảnh hưởng bởi Luật Hồi giáo, nhưng rõ ràng đó là một con số đáng kể. Do đó hthống Luật Hồi giáo bao gồm những quốc gia theo Luật Hồi giáo, cũng là một hệ thống pháp luật thế giới lớn, tồn tại và phát triển và tương tác cùng các hthống pháp luật thế giới khác. 
II. Về nguồn của Luật Hồi giáo
Như đã đề cập ở trên, Luật Hồi giáo chính là Luật Shari’ah. Luật này điều chỉnh, đưa ra nguyên tắc và quy định hành vi của người dân, hoạt động của các cơ quan tổ chức, đưa ra các quy phạm để áp dụng trong đời sống của một con người như: ăn kiêng, cách nuôi dạy con cái, đồng thời cũng quy định và miêu tả những nguyên tắc dành cho người tu hành, việc bố thí cho người nghèo và những vấn đề tôn giáo khác. Bên cạnh đó Luật Shari’ah cũng được sử dụng như những hướng dẫn đối với các hoạt động của con người trong xã hội cũng như đối với những tác động qua lại giữa các nhóm dân tộc. Ở phạm vi rộng hơn, Luật Shari’ah được áp dụng để giải quyết những tranh chấp trong phạm vi quốc gia và giữa các quốc gia với nhau, đồng thời giải quyết những tranh chấp, xung đột quốc tế và vấn đề chiến tranh[8]. Do đó nguồn luật của Luật Hồi giáo cũng chính là các thành tố của Luật Shari’ah. Luật này gồm 4 thành tố sau: Kinh Qu’ran (hay còn gọi là Koran), Kinh Sunna, Idjmá và Qiyás.[9]
Thành tố đầu tiên mang tính chất chủ đạo của Luật Hồi giáo là Kinh Qu’ran. Đây cũng là nguồn luật với những quy định mang giá trị chung thẩm khi được áp dụng[10]. Kinh Quran là nguồn luật cao nhất của Luật Hồi giáo, được coi là những lời của Thánh Alla tiết lộ cho tiên tri Muhammed (570-632)[11]. Sự hình thành và phát triển của Quran với tư cách vừa là Kinh Thánh vừa là luật xuất hiện ban đầu bởi sự truyền đạo của nhà tiên tri (Prophet) Mohammad tại thành phố Madinah, sau đó đã đồng loạt xuất hiện ở mọi nơi cùng với sự gia tăng những tín đồ của Đạo Hồi. Nhà tiên tri vừa là chỗ dựa tinh thần vừa là người tạm thời đứng đầu cộng đồng. Về cấu trúc Kinh Quran được chia thành 30 phần và 114 chương và được sắp xếp theo ý của nhà tiên tri[12] . Các chương lại chia nhỏ thành 6.200 khổ thơ (verse), các luật gia Đạo Hồi gọi chúng là “Những khổ thơ pháp luật”[13]. Chỉ có khoảng 3% các khổ thơ đó là liên quan đến pháp luật. Ví dụ, Luật Gia đình được quy định trong khoảng 70 khổ thơ; các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực luật tư khác được quy định trong 70 khổ thơ; khoảng 30 khổ thơ được coi là đặc trưng cho Luật Hình s; các vấn đề về tài chính và hiến pháp thì được đề cập trong khoảng 20 khổ thơ; các vấn đề liên quan đến Luật Quốc tế thì cũng được quy định trong khoảng 20 khổ thơ[14].
Cách thức thể hiện những điều răn dạy và điều cấm trong Kinh Qu’ran bao giờ cũng theo cùng một công thức: điều răn dạy đều bắt đầu bằng lời giới thiệu, sau đó kết thúc bằng một lời cấm đoán. Đơn cử như điều răn sau[15]:
Đoạn đầu tiên, lời giới thiệu là: Người dân hỏi nhà tiên tri về rượu và bài bạc. Hãy nói rằng, cả hai thứ đó đều xấu xa, dù rằng nó có một thuận lợi nào đó cho đàn ông, nhưng sự xấu xa của nó thì to lớn hơn sự thuận lợi đó nhiều lần”.
Đoạn thứ hai, lời giới thiệu hướng đến điều cấm đoán:Hỡi những tín đồ, không được cầu nguyện khi người đang say”.
Đoạn thứ ba, lời giới thiệu đã chuyển thành điều cấm hoàn toàn: Hỡi những tín đồ, uống rượu và chơi cờ bạc là những hành động xấu xa, là công việc của quỷ dữ, vì vậy phải tránh xa nó”.
Trong Kinh Quran, tín ngưỡng tồn tại bên cạnh một số nguyên tắc pháp lý và hầu hết các nguyên tắc pháp lý liên quan đến luật gia đình (kết hôn, ly dị và thừa kế), một số liên quan đến Luật Hình sự (ngoại tình, vu khống, uống rượu), một số liên quan đến hợp đồng (hình thức hợp đồng, phương thức thanh toán), một số liên quan đến vấn đề pháp luật về tài chính, hiến pháp, tòa án, tranh chấp quốc tế... Các vấn đề liên quan đến tôn giáo, nghi lễ, nghi thức và luật pháp rất ngắn gọn trong Quran và hầu như mang tính nguyên tắc, không cụ thể. Hơn thế nữa, vẫn có một số vấn đề bỏ ngỏ, chưa được đề cập. Vì vậy, về nguyên tắc, vẫn rất cần sự giải thích và mô tả từ nhà tiên tri, hay nói cách khác, bên cạnh Kinh Qu’ran vẫn cần có nguồn luật bổ trợ; đây chính là tiền đề để nguồn luật quan trọng thứ hai của Luật Hồi giáo ra đời, đó là Kinh Sunna.
Kinh Sunna chứa đựng những lời dạy bảo của tiên tri Mohamed và những giai thoại, những câu chuyện (gọi là Hadith) về nhà tiên tri và các tín đồ của mình đã sống một cuộc sống phù hợp với trật tự tôn giáo được quy định trong Kinh Qu’ran[16]. Những câu chuyện và giai thoại đó đã chi tiết hóa những vấn đề được đề cập mang tính nguyên tắc, hoặc chưa rõ ràng trong Kinh Qu’ran. Cuộc sống của Mohamad và tín đồ của ông dần được xem là khuôn mẫu cho cuộc sống của người dân trong xã hội. Nội dung của Sunna gồm 3 loại: lời nói của tiên tri về tôn giáo; hoạt động và hành vi của nhà tiên tri và sự chấp nhận của tiên tri đối với một số hành vi nhất định của con người. Chúng ta có thể nhận thấy rằng, trong một chừng mực nhất định, các nguyên tắc của Đạo Hồi, Luật Hồi giáo cũng được rút ra từ nguồn Sunna này. Bởi vì Quran nhìn chung chỉ giải quyết những nguyên tắc lớn về pháp luật, những vấn đề cốt yếu về tôn giáo và đi sâu vào chi tiết một số ít trường hợp. Điển hình như: Kinh Qu’ran cấm uống ruợu, nhưng lại không nói gì về chế tài đối với hành vi này; chế tài này lại được tìm thấy trong Kinh Sunna bằng việc miêu tả rằng nhà tiên tri đã ra chế tài và bản thân ông là người thực thi hình phạt đánh roi đối với hành vi uống rượu này[17]. Như vậy, Kinh Sunna đã chi tiết hóa những vấn đề đó bằng lời giải thích và hành động của nhà tiên tri và của những tín đồ ngoan đạo đi theo ông.
Khác biệt hẳn so với Kinh Qu’ran và Kinh Sunna là hai nguồn luật của Luật Hồi giáo mang tính thần thánh, tự nhiên thì thành tố thứ ba của Luật Hồi giáo là Idjimá lại được ra đời trên cơ sở sự thống nhất về quan điểm pháp luật của các học giả pháp lý Đạo Hồi[18]. Những vấn đề mà các nhà học giả pháp lý Đạo Hồi bàn luận là những vấn đề về con người và cả chính trị nữa. Khi những vấn đề đó đạt được sự thống nhất, chúng được giải thích là Idjimá. Những khái niệm và ý kiến trong Idjimá thì không tìm thấy trong Kinh Qu’ran và Kinh Sunna. Đơn cử như một quy định được đề cập trong Idjimá, phụ nữ không thể trở thành thẩm phán. Quy định này không hề được đề cập trong Kinh Qu’ran và Kinh Sunna mà lại được rút ra từ quan điểm thống nhất của các học giả pháp lý Đạo Hồi.[19] Trong thực tiễn, các thẩm phán có thể kiểm tra trong Idjmá để tìm kiếm nhiều giải pháp khả thi để áp dụng trong xã hội hiện đại. Và họ hoàn toàn tự do sáng tạo phương pháp mới để giải quyết các vấn đề tội phạm và vấn đề xã hội dựa trên cơ sở những quan điểm được đề cập trong Idjimá. Do vậy thẩm phán có quyền quyết định rất lớn trong việc áp dụng quan điểm nào trong Idjmá để giải quyết một vụ việc cụ thể bất kỳ.
Thành tố thứ tư của Luật Hồi giáo là Qiyas, là án lệ được tuyên bởi thẩm phán cấp cao[20]. Nói một cách khác, Qiyas có thể gọi là “phương pháp suy xét theo sự việc tương tự”[21]. Các thẩm phán của các nước theo Luật Hồi giáo có thể sử dụng tiền lệ pháp đó để giải quyết một vụ việc mới phát sinh sau này mà hướng giải quyết vụ việc đó không được đề cập trong Kinh Qu’ran, Kinh Sunna và Idjmá. Ví dụ như đó là một tội phạm về máy vi tính, trộm cắp phần mềm máy tính, trong Kinh Qu’ran và Sunna không đề cập đến loại tội phạm này. Hành vi này là cần thiết bị cấm nên thẩm phán phải dựa trên lý lẽ và logic để sáng tạo ra án lệ, hay còn gọi là Qiyas.
Vậy ở các nước theo Luật Hồi giáo có tồn tại nguồn luật là các văn bản pháp luật hay không? Có thể nói rằng, có văn bản pháp luật ở các quốc gia theo Luật Hồi giáo cũng như việc có tồn tại án lệ trong hệ thống pháp luật của những quốc gia này. Nhưng đây là sự chuyển hóa những quan điểm pháp luật, ý kiến pháp luật được thống nhất bởi các học giả pháp lý Đạo Hồi vào các văn bản pháp luật[22]. Và sự chuyển hóa này bắt đầu vào khoảng thế kỷ 19, thời điểm lịch sử các quốc gia theo Luật Hồi giáo có một sự thay đổi rất lớn lao, khi các quốc gia Phương Tây tăng cường quyền lực toàn cầu và chinh phục một phần rộng lớn của thế giới, trong đó có các vùng lãnh thổ của Luật Hồi giáo[23].
Như vậy có thể khẳng định rằng những quốc gia nằm trong hệ thống Luật Hồi giáo là những quốc gia điều chỉnh các mối quan hệ pháp luật phát sinh trong xã hội bằng Luật Shari’ah - hay còn gọi là Luật Hồi giáo. Luật này bao gồm bốn thành tố, nói khác đi là bốn nguồn luật: Kinh Qu’ran, Kinh Sunna, Idjmá và Qiyas; trong đó Kinh Qu’ran và Kinh Sunna là hai nguồn luật chủ đạo nhất, có giá trị pháp lý cao nhất đồng thời thể hiện là nguồn luật mang tính thần thánh và tự nhiên, còn Idjmá và Qiyas đóng vai trò là nguồn luật bổ trợ cho hai nguồn luật trên nhưng không thể thiếu được trong hệ thống pháp luật của các quốc gia theo Luật Hồi giáo và là nguồn luật thể hiện cho sự điều chỉnh pháp luật bằng việc kết hợp những tư tưởng thần thánh tự nhiên với lý trí và sự thông thái của con người.



[1] Lê Phụng Hoàng chủ biên, Lịch sử văn minh thế giới, Nxb Giáo dục, năm 2000, tr. 73 - 74.
[2] Michael Bogdan, Comparative Law, Nxb Kluwer Law and Taxation, năm 1994, tr. 227.
[3] Réne David (Người dịch: Nguyễn Sĩ Dũng và Nguyễn Đức Lâm), Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới đương đại, Nxb Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, tr . 341.
[4] Michael Bogdan, sđd, tr. 228.
[5] http://muslim-canada.org/Islam_myths.htm
[6] http://muslim-canada.org/Islam_myths.htm
[7] Michael Bogdan, sđd, tr . 220.
[8] http://muslim-canada.org/Islam_myths.htm
[9] Các nguồn này được thừa nhận thống nhất bởi nhiều nhà nghiên cứu như Michael Bogdan (sđd, tr. 221 - 223) và Réne David (sđd, tr. 342 - 345).
[10] http://muslim-canada.org/Islam_myths.htm
[11] Michael Bogdan, sđd, tr. 221.
[12] Dr. Ahmad A. Galwash, Handbook of Muslim Belief, năm 2001, tr. 169.
[13] Réne David, sđd, tr. 343.
[14] Michael Bogdan, sđd, tr. 221.
[15] Dr. Ahmad A. Galwash, sđd, tr. 166.
[16] http://muslim-canada.org/Islam_myths.htm
[17] Michael Bogdan, sđd, tr. 222.
[18] Về điểm này có được sự thống nhất của các nhà nghiên cứu như Michael Bogdan (sđd, tr. 222) và Réne David (sđd, tr. 344) và cũng là ý kiến được trình bày trong trang web http://muslim-canada.org/Islam_myths.htm.
[19] Michael Bogdan, sđd, tr. 222.
[20] http://muslim-canada.org/Islam_myths.htm
[21] Réne David, sđd, tr. 345.
[22] http://en.wikipedia.org/wiki/Sharia
[23] http://en.wikipedia.org/wiki/Sharia

16:51 | Posted in , , | Read More »

19 QUYỀN CƠ BẢN - 19 YẾU TỐ CẤU THÀNH NỀN DÂN CHỦ BỀN VỮNG Ở ĐỨC


Tác giả bản dịch: Nguyễn Minh Tuấn
Nguồn bản gốc Tiếng Đức: tại Website chính thức của
Bundeszentrale für politische Bildung (BPB), truy cập tại đây


Nội dung và cơ chế đảm bảo thực hiện các quyền cơ bản là linh hồn của bất kỳ một bản Hiến pháp nào. 
19 Điều đầu tiên của Luật cơ bản năm 1949 là 19 qui định về quyền cơ bản và cũng chính là 19 viên đá tảng gắn kết tạo dựng nên nền dân chủ bền vững ở Đức. 
Xuất phát từ ý nghĩa quan trọng của những điều luật, tác giả xin trân trọng công bố và giới thiệu đến bạn đọc bản dịch tham khảo Tiếng Việt từ nguyên bản Tiếng Đức 19 quyền cơ bản trong Luật cơ bản (Grundgesetz) của CHLB Đức này.  
Bản dịch Tiếng Việt dưới đây cũng như những bản dịch khác đã giới thiệu trên trang blog cá nhân này chỉ mang tính chất tham khảo. Tác giả bản dịch hoàn toàn không chịu trách nhiệm pháp lý về bất cứ sự trùng lặp, sao chép hay suy luận nào khác đáng tiếc liên quan đến bản dịch này có thể xảy ra. Tác giả bản dịch rất mong nhận được các ý kiến đóng góp thiện chí của bạn đọc gửi về địa chỉ email nguyenminhtuan_hn@yahoo.com để hoàn thiện bản dịch này và các bản dịch văn bản pháp luật khác. (NMT)
 
I. CÁC QUYỀN CƠ BẢN (I. GRUNDRECHTE)

Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch):
Artikel 1 
[Menschenwürde; 
Grundrechtsbindung der staatlichen Gewalt]
(1) Die Würde des Menschen ist unantastbar. Sie zu achten und zu schützen istVerpflichtung aller staatlichen Gewalt.
(2) Das Deutsche Volk bekennt sich darum zu unverletzlichen undunveräußerlichen Menschenrechten als Grundlage jeder menschlichen Gemeinschaft,des Friedens und der Gerechtigkeit in der Welt.
(3) Die nachfolgenden Grundrechte binden Gesetzgebung, vollziehende Gewalt undRechtsprechung als unmittelbar geltendes Recht.



Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 1
Bảo vệ nhân phẩm; 
Sự ràng buộc của quyền lực nhà nước 
bởi các quyền cơ bản
(1) Nhân phẩm là bất khả xâm phạm. Tôn trọng và bảo vệ  nhân phẩm là nghĩa vụ của tất cả các nhánhquyền lực nhà nước.
(2) Nhân dân Đức vì thế thừa nhận việc nhân quyền (Menschenrechte) là bất khảxâm phạm và không thể bị lạm dụng như là nền tảng của cộng đồng, hoà bình vàcông lý trên toàn thế giới.
(3) Các quyền hạn cơ bản dưới đây ràng buộc trực tiếp cáccơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 2
[Allgemeine Handlungsfreiheit; 
Recht auf Leben; Körperliche Unversehrtheit, 
Freiheitder Person]
(1) Jeder hat das Recht auf die freie Entfaltung seiner Persönlichkeit, soweiter nicht die Rechte anderer verletzt und nicht gegen die verfassungsmäßigeOrdnung oder das Sittengesetz verstößt.
(2) Jeder hat das Recht auf Leben und körperliche Unversehrtheit. Die Freiheitder Person ist unverletzlich. In diese Rechte darf nur auf Grund eines Gesetzeseingegriffen werden.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 2
Quyền tự do hành động, 
quyền sống, quyền bất khả xâm phạm thân thể,
quyền tự do cá nhân.
(1). Mọi người đều có quyền  phát triển tính cách riêng của mình trong phạmvi mà người đó không xâm phạm đến quyền tự do của những người khác, không vi phạmtrật tự hợp hiến hay luân lý đạo đức.
(2) Mọi người đều có quyền sống và bất khả xâm phạm vềthân thể. Quyền tự do của con người là bất khả xâm phạm. Chỉ có dựa trên cơ sởcủa một đạo luật (Gesetz) mới có thể can thiệp (Eingriff) vào những quyền này.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 3
[Gleichheit vor dem Gesetz; 
Gleichberechtigung von Männern und Frauen; 
Diskriminierungsverbote]
(1) Alle Menschen sind vor dem Gesetz gleich.
(2) Männer und Frauen sind gleichberechtigt. Der Staat fördert die tatsächlicheDurchsezung der Gleichberechtigung von Frauen und Männern und wirkt auf dieBeseitigung bestehender Nachteile hin.
(3) Niemand darf wegen seines Geschlechtes, seiner Abstammung, seiner Rasse,seiner Sprache, seiner Heimat und Herkunft, seines Glaubens, seiner religiösenoder politischen Anschauungen benachteiligt oder bevorzugt werden.
Niemanddarf wegen seiner Behinderung benachteiligt werden.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 3
Bình đẳng trước pháp luật; 
bình quyền giữa nam và nữ; 
cấm phân biệt đối xử
(1) Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.
(2) Nam, nữ là bình quyền. Nhà nước thúc đẩy việc thựcthi quyền bình đẳng nam nữ và từng bước loại bỏ những hạn chế hiện còn đang tồntại.
(3) Không ai bị thiên vị hoặc bị phân biệt đối xử vìgiới tính, dòng dõi, chủng tộc, ngôn ngữ, quê quán và nguồn gốc, tôn giáo, tínngưỡng hoặc các quan điểm chính trị. Không ai bị phân biệt đối xử vì tàn tật.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 4
[Glaubens-, Gewissens- 
und Bekenntnisfreiheit]
(1) Die Freiheit des Glaubens, des Gewissens und die Freiheit des religiösenund weltanschaulichen Bekenntnisses sind unverletzlich.
(2) Die ungestörte Religionsausübung wird gewährleistet.
(3) Niemand darf gegen sein Gewissen zum Kriegsdienst mit der Waffe gezwungenwerden. Das Nähere regelt ein Bundesgesetz.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 4
Tự do tôn giáo, 
tự do nhận thức vàtự do tín ngưỡng
(1) Tự do về tín ngưỡng, nhận thức và tự do theo mộttôn giáo hoặc tự do theo một  thế giới quan nào đó là bất khả xâm phạm.
(2) Hoạt động tôn giáo một cách ôn hòa được bảo vệ.
(3) Không ai bị ép buộc cầm vũ khí phục vụ chiếntranh. Các điều khoản chi tiết do một đạo luật của liên bang qui định.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch):
Artikel 5
[Meinungs-, Informations-, 
Pressefreiheit; Kunst und Wissenschaft]
(1) Jeder hat das Recht, seine Meinung in Wort, Schrift und Bild frei zu äußernund zu verbreiten und sich aus allgemein zugänglichen Quellen ungehindert zuunterrichten. Die Pressefreiheit und die Freiheit der Berichterstattung durchRundfunk und Film werden gewährleistet. Eine Zensur findet nicht statt.
(2) Diese Rechte finden ihre Schranken in den Vorschriften der allgemeinenGesetze, den gesetzlichen Bestimmungen zum Schutze der Jugend und in dem Rechtder persönlichen Ehre.
(3) Kunst und Wissenschaft, Forschung und Lehre sind frei. Die Freiheit derLehre entbindet nicht von der Treue zur Verfassung.


Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 5
Tự do ngôn luận, 
tự do thông tin, tự do báo chí; 
tự do nghệ thuật và tự do khoa học
(1) Mọi công dân đều có quyền tự do thể hiện suy nghĩ của mình bằng lời nói,chữ viết, hình ảnh, mở rộng và phổ biến nó qua các phương tiện chung không bị hạnchế. Tự do báo chí và tự do thông tin qua truyền thanh và phim ảnh được bảo đảm.Không có bất cứ sự kiểm duyệt nào.
(2) Những quyền này bị giới hạn trong những qui định củanhững đạo luật chung, trong các điều khoản luật bảo vệ thanh niên, và quyền tôntrọng danh dự cá nhân.
(3) Nghệ thuật và khoa học, nghiên cứu và giảng dạy đều được tự do. Tự do giảng dạy phải trung thành với Hiến pháp.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 6
[Ehe und Familie; 
nichteheliche Kinder]
(1) Ehe und Familie stehen unter dem besonderen Schutze der staatlichenOrdnung.
(2) Pflege und Erziehung der Kinder sind das natürliche Recht der Eltern unddie zuvörderst ihnen obliegende Pflicht. Über ihre Betätigung wacht diestaatliche Gemeinschaft.
(3) Gegen den Willen der Erziehungsberechtigten dürfen Kinder nur auf Grundeines Gesetzes von der Familie getrennt werden, wenn die Erziehungsberechtigtenversagen oder wenn die Kinder aus anderen Gründen zu verwahrlosen drohen.
(4) Jede Mutter hat Anspruch auf den Schutz und die Fürsorge der Gemeinschaft.
(5) Den unehelichen Kindern sind durch die Gesetzgebung die gleichenBedingungen für ihre leibliche und seelische Entwicklung und ihre Stellung inder Gesellschaft zu schaffen wie den ehelichen Kindern.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 6
Hôn nhân và gia đình; 
con ngoài giá thú
(1) Hôn nhân và gia đình được hưởng sự bảo vệ đặc biệtcủa nhà nước.
(2) Việc chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ em là quyền tựnhiên của cha mẹ và là trách nhiệm ràng buộc của cha mẹ. Nhà nước giám sát chamẹ trong việc thực hiện trách nhiệm này.
(3) Trẻ em được tách khỏi gia đình mà không theo nguyệnvọng của cha mẹ hoặc người bảo hộ của chúng chỉ dựa trên cơ sở của một đạo luật,hoặc khi cha mẹ hay người giám hộ không thực hiện trách nhiệm của họ hoặc khi trẻem bị ngược đãi.
(4) Mọi bà mẹ đều có quyền yêu cầu sự chăm sóc và bảovệ của cộng đồng.
(5) Cơ quan lập pháp sẽ qui định để đảm bảo việc conngoài giá thú cũng giống như con trong giá thú đều được nhận những cơ hội để pháttriển thể chất và tinh thần và có vị trí xã hội.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 7
[Schulwesen]
(1) Das gesamte Schulwesen steht unter der Aufsicht des Staates.
(2) Die Erziehungsberechtigten haben das Recht, über die Teilnahme des Kindesam Religionsunterricht zu bestimmen.
(3) Der Religionsunterricht ist in den öffentlichen Schulen mit Ausnahme derbekenntnisfreien Schulen ordentliches Lehrfach. Unbeschadet des staatlichenAufsichtsrechtes wird der Religionsunterricht in Übereinstimmung mit den Grundsätzender Religionsgemeinschaften erteilt. Kein Lehrer darf gegen seinen Willenverpflichtet werden, Religionsunterricht zu erteilen.
(4) Das Recht zur Errichtung von privaten Schulen wird gewährleistet. PrivateSchulen als Ersatz für öffentliche Schulen bedürfen der Genehmigung des Staatesund unterstehen den Landesgesetzen. Die Genehmigung ist zu erteilen, wenn dieprivaten Schulen in ihren Lehrzielen und Einrichtungen sowie in derwissenschaftlichen Ausbildung ihrer Lehrkräfte nicht hinter den öffentlichenSchulen zurückstehen und eine Sonderung der Schüler nach denBesitzverhältnissen der Eltern nicht gefördert wird. Die Genehmigung ist zuversagen, wenn die wirtschaftliche und rechtliche Stellung der Lehrkräfte nichtgenügend gesichert ist.
(5) Eine private Volksschule ist nur zuzulassen, wenn die Unterrichtsverwaltungein besonderes pädagogisches Interesse anerkennt oder, auf Antrag vonErziehungsberechtigten, wenn sie als Gemeinschaftsschule, als Bekenntnis- oderWeltanschauungsschule errichtet werden soll und eine öffentliche Volksschuledieser Art in der Gemeinde nicht besteht.
(6) Vorschulen bleiben aufgehoben.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 7
Hệ thống giáo dục
(1) Toàn bộ hệ thống giáo dục đều chịu sự giám sát củanhà nước.
(2) Cha mẹ hoặc người giám hộ có quyền quyết định con họcó tham dự các bài giảng tôn giáo hay không.
(3) Các bài giảng tôn giáo là một phần trong chươngtrình học của các trường công lập, trừ các trường học không liên quan đến tôngiáo. Kiến thức tôn giáo được trang bị phù hợp với những nguyên lý của cộng đồngtôn giáo có liên quan, không định kiến hay mâu thuẫn với việc giám sát của nhànước. Giáo viên không bị ép buộc phải giảng dạy các kiến thức tôn giáo.
(4) Quyền xây dựng các trường tư thục được bảo vệ. Cáctrường tư thục ra đời thay thế các trường công lập phải được phép của Nhà nướcvà chịu sự qui định bởi luật của bang.  Nhànước sẽ cho phép thành lập các trường tư thục trong trường hợp trường tư thụckhông thua kém các trường công lập về mục tiêu giáo dục, cơ sở vật chất hoặc độingũ giáo viên được đào tạo chuyên nghiệp và học sinh không bị phân biệt đối xửtheo nguồn gốc của bố mẹ. Giấy phép hoạt động sẽ bị thu hồi nếu vị trí kinh tếvà pháp lý của đội ngũ giáo viên không được bảo đảm đầy đủ.
(5) Một trường tư thục được chấp thuận chỉ khi cơ quanquản lý giáo dục thấy được trường đó phục vụ lợi ích sư phạm đặc biệt hoặc theođề nghị của phụ huynh, khi trường đầy đủ điều kiện như trường công hoặcđược xây dựng dựa trên một triết lý riêng và khi không tồn tại trường công lập nàonhư vậy trong khu vực đó.
(6) Các trường dự bị bị xoá bỏ.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 8
[Versammlungsfreiheit]
(1) Alle Deutschen haben das Recht, sich ohne Anmeldung oder Erlaubnisfriedlich und ohne Waffen zu versammeln.
(2) Für Versammlungen unter freiem Himmel kann dieses Recht durch Gesetz oderauf Grund eines Gesetzes beschränkt werden.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 8
Quyền tự do biểu tình
(1) Mọi công dân Đức đều có quyền biểu tình một cáchhoà bình và không sử dụng vũ khí mà không phụ thuộc vào việc cấp phép của nhànước.
(2) Trong trường hợp biểu tình ngoài trời thì quyềnnày có thể bị giới hạn bởi đạo luật cụ thể hoặc trên căn cứ của một đạo luật.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 9
[Vereinigungsfreiheit, 
Verbot von Maßnahmen gegen Arbeitskämpfe]
(1) Alle Deutschen haben das Recht, Vereine und Gesellschaften zu bilden.
(2) Vereinigungen, deren Zwecke oder deren Tätigkeit den Strafgesetzenzuwiderlaufen oder die sich gegen die verfassungsmäßige Ordnung oder gegen denGedanken der Völkerverständigung richten, sind verboten.
(3) Das Recht, zur Wahrung und Förderung der Arbeits- undWirtschaftsbedingungen Vereinigungen zu bilden, ist für jedermann und für alleBerufe gewährleistet. Abreden, die dieses Recht einschränken oder zu behindernsuchen, sind nichtig, hierauf gerichtete Maßnahmen sind rechtswidrig. Maßnahmennach den Artikeln 12a, 35 Abs. 2 und 3, Artikel 87a Abs. 4 und Artikel 91dürfen sich nicht gegen Arbeitskämpfe richten, die zur Wahrung und Förderungder Arbeits- und Wirtschaftsbedingungen von Vereinigungen im Sinne des Satzes 1geführt werden.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 9
Tự do lập hội, 
nghiêm cấm các biện pháp chống lại việc đình công
(1) Mọi công dân Đức đều có quyền thành lập hội và cáctổ chức xã hội khác.
(2) Những hiệp hội, mà mục đích hoặc hoạt động vi phạmluật hình sự hoặc trực tiếp trái với trật tự hợp hiến hoặc làm tổn hại đến sự đoànkết dân tộc đều bị cấm.
(3) Quyền lập hội để bảo đảm và hỗ trợ các điều kiệnlàm việc và kinh tế được đảm bảo cho mọi cá nhân và mọi nghề nghiệp. Các thoả ướccó hạn chế hoặc làm giảm đi hiệu lực của quyền này đều bị tuyên vô hiệu và cácbiện pháp áp dụng bị tuyên là trái luật. Các biện pháp được thực hiện theo điều12a, các khoản 2 và 3 của điều 35, khoản 4 điều 87a, và điều 91 không đượcáp dụng nhằm chống  lại các cuộc đìnhcông để đảm bảo và cải thiện các điều kiện làm việc và kinh tế  của các hiệp hội trong nội dung của Câu 1 khoảnnày.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch):
Artikel 10
[Brief-, Post- und Fernmeldegeheimnis]
(1) Das Briefgeheimnis sowie das Post- und Fernmeldegeheimnis sindunverletzlich.
(2) Beschränkungen dürfen nur auf Grund eines Gesetzes angeordnet werden. Dientdie Beschränkung dem Schutze der freiheitlichen demokratischen Grundordnungoder des Bestandes oder der Sicherung des Bundes oder eines Landes, so kann dasGesetz bestimmen, daß sie dem Betroffenen nicht mitgeteilt wird und daß an dieStelle des Rechtsweges die Nachprüfung durch von der Volksvertretung bestellteOrgane und Hilfsorgane tritt.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 10
Bí mật thư tín, điện tín và viễn thông
(1) Quyền bí mật riêng tư về thư từ cũng như điệntín, viễn thông (Fernmeldegeheimnis) là bất khả xâm phạm.
(2) Các giới hạn của quyền này chỉ trên cơ sở của mộtđạo luật. Nếu trong trường hợp đặc biệt, việc hạn chế nhằm bảo đảm trật tự tự dodân chủ cơ bản hoặc bảo vệ chứng cứ hoặc bảo vệ sự an toàn của liên bang hay củamột tiểu bang, thì một đạo luật riêng có thể quy định việc can thiệp của nhà nước mà người có quyền lợi liênquan sẽ không được thông báo trước và sau đó chứng cứ sẽ được chuyển đến Tòa án để xem xét và được giải quyết thông quacon đường tố tụng, có sự giám sát của cơ quan dân cử và tổ chức hỗ trợ khác.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch):
Artikel 11
[Freizügigkeit]
(1) Alle Deutschen genießen Freizügigkeit im ganzen Bundesgebiet.
(2) Dieses Recht darf nur durch Gesetz oder auf Grund eines Gesetzes und nurfür die Fälle eingeschränkt werden, in denen eine ausreichende Lebensgrundlagenicht vorhanden ist und der Allgemeinheit daraus besondere Lasten entstehenwürden oder in denen es zur Abwehr einer drohenden Gefahr für den Bestand oderdie freiheitliche demokratische Grundordnung des Bundes oder eines Landes, zurBekämpfung von Seuchengefahr, Naturkatastrophen oder besonders schwerenUnglücksfällen, zum Schutze der Jugend vor Verwahrlosung oder um strafbarenHandlungen vorzubeugen, erforderlich ist.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 11
Quyền tự do đi lại
(1) Mọi công dân Đức đều có quyền tự do đi lại trêntoàn lãnh thổ liên bang.
(2) Quyền này bị hạn chế bởi một đạo luật hoặc trên cơsở một đạo luật tương ứng trong các trường hợp như khi điều kiện sống gặp nguycấp, không quyết định ngay sẽ dẫn đến một gánh nặng đặc biệt cho cộng đồng, hoặc trong các trường hợp cần thiết đểngăn chặn tai họa sắp xảy ra đối với cộng đồng hoặc xâm phạm trật tự tự do dânchủ cơ bản của liên bang hoặc của một tiểu bang, hoặc để chống lại nguy cơ dịchbệnh, đối phó với tai nạn nghiêm trọng hoặc thảm hoạ tự nhiên, để bảo vệ thanh thiếuniên khỏi kỳ thị hoặc để ngăn chặn những hành vi phạm tội.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch):
Artikel 12
[Berufsfreiheit; 
Verbot derZwangsarbeit]
(1) Alle Deutschen haben das Recht, Beruf, Arbeitsplatz und Ausbildungsstättefrei zu wählen. Die Berufsausübung kann durch Gesetz oder auf Grund einesGesetzes geregelt werden.
(2) Niemand darf zu einer bestimmten Arbeit gezwungen werden, außer im Rahmeneiner herkömmlichen allgemeinen, für alle gleichen öffentlichenDienstleistungspflicht.
(3) Zwangsarbeit ist nur bei einer gerichtlich angeordneten Freiheitsentziehungzulässig.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 12
Quyền tự do nghề nghiệp; 
cấm lao động cưỡng bức
(1) Mọi công dân Đức đều có quyền tự do lựa chọn ngànhnghề, nơi làm việc và nơi đào tạo. Việc hành nghề sẽ căn cứ vào một đạo luậtriêng hoặc trên cơ sở một đạo luật riêng.
(2) Không ai bị ép buộc thực hiện một loại công việc cụthể, trừ khi việc thực hiện lao động công ích là nghĩa vụ bình đẳng cho tất cảmọi người.
(3) Chỉ những người bị tước quyền tự do theo phán quyết củaToà án mới có thể bị lao động bắt buộc.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch):
Artikel 12a
[Wehr- und Dienstpflicht]
(1) Männer können vom vollendeten achtzehnten Lebensjahr an zum Dienst in denStreitkräften, im Bundesgrenzschutz oder in einem Zivilschutzverbandverpflichtet werden.
(2) Wer aus Gewissensgründen den Kriegsdienst mit der Waffe verweigert, kann zueinem Ersatzdienst verpflichtet werden. Die Dauer des Ersatzdienstes darf dieDauer des Wehrdienstes nicht übersteigen. Das Nähere regelt ein Gesetz, das dieFreiheit der Gewissensentscheidung nicht beeinträchtigen darf und auch eineMöglichkeit des Ersatzdienstes vorsehen muß, die in keinem Zusammenhang mit denVerbänden der Streitkräfte und des Bundesgrenzschutzes steht.
(3) Wehrpflichtige, die nicht zu einem Dienst nach Absatz 1 oder 2 herangezogensind, können im Verteidigungsfalle durch Gesetz oder auf Grund eines Gesetzeszu zivilen Dienstleistungen für Zwecke der Verteidigung einschließlich desSchutzes der Zivilbevölkerung in Arbeitsverhältnisse verpflichtet werden;Verpflichtungen in öffentlich-rechtliche Dienstverhältnisse sind nur zurWahrnehmung polizeilicher Aufgaben oder solcher hoheitlichen Aufgaben deröffentlichen Verwaltung, die nur in einem öffentlich-rechtlichenDienstverhältnis erfüllt werden können, zulässig. Arbeitsverhältnisse nach Satz1 können bei den Streitkräften, im Bereich ihrer Versorgung sowie bei deröffentlichen Verwaltung begründet werden; Verpflichtungen inArbeitsverhältnisse im Bereiche der Versorgung der Zivilbevölkerung sind nurzulässig, um ihren lebensnotwendigen Bedarf zu decken oder ihren Schutzsicherzustellen.
(4) Kann im Verteidigungsfalle der Bedarf an zivilen Dienstleistungen imzivilen Sanitäts- und Heilwesen sowie in der ortsfesten militärischenLazarettorganisation nicht auf freiwilliger Grundlage gedeckt werden, so könnenFrauen vom vollendeten achtzehnten bis zum vollendeten fünfundfünfzigsten Lebensjahrdurch Gesetz oder auf Grund eines Gesetzes zu derartigen Dienstleistungenherangezogen werden. Sie dürfen auf keinen Fall zum Dienst mit der Waffeverpflichtet werden.
(5) Für die Zeit vor dem Verteidigungsfalle können Verpflichtungen nach Absatz3 nur nach Maßgabe des Artikels 80a Abs. 1 begründet werden. Zur Vorbereitungauf Dienstleistungen nach Absatz 3, für die besondere Kenntnisse oderFertigkeiten erforderlich sind, kann durch Gesetz oder auf Grund eines Gesetzesdie Teilnahme an Ausbildungsveranstaltungen zur Pflicht gemacht werden. Satz 1findet insoweit keine Anwendung.
(6) Kann im Verteidigungsfalle der Bedarf an Arbeitskräften für die in Absatz 3Satz 2 genannten Bereiche auf freiwilliger Grundlage nicht gedeckt werden, sokann zur Sicherung dieses Bedarfs die Freiheit der Deutschen, die Ausübungeines Berufs oder den Arbeitsplatz aufzugeben, durch Gesetz oder auf Grundeines Gesetzes eingeschränkt werden. Vor Eintritt des Verteidigungsfalles giltAbsatz 5 Satz 1 entsprechend.


Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 12a
Nghĩa vụ quân sự 
và các nghĩa vụ công ích khác
(1) Nam giới đủ 18 tuổi có thể được yêu cầu phục vụtrong Lực lượng vũ trang, trong lực lượng cảnh sát liên bang, hoặc trong một tổchức dân quân tự vệ.
(2) Bất cứ ai vì lý do nhận thức cá nhân mà từ chối thựchiện nghĩa vụ quân sự liên quan đến việc dùng vũ khí thì sẽ phải thực hiệnnghĩa vụ lao động công ích. Khoảng thời gian thực hiện nghĩa vụ lao động côngích không vượt quá thời gian thực hịên nghĩa vụ quân sự. Các qui định chi tiếtđược quy định trong một đạo luật riêng, đạo luật này sẽ không xâm phạm đến quyềntự do quyết định theo lương tâm và quy định rõ khả năng thực hiện nghĩa vụ laođộng công ích thay thế nghĩa vụ quân sự không liên quan tới các đơn vị thuộc Lựclượng vũ trang hoặc Cảnh sát liên bang.
(3) Những người đến tuổi  tham gia nghĩa vụ quân sự mà không bị kêu gọiphục vụ nghĩa vụ theo Khoản 1 hay khoản 2 của điều này có thể được phân công làm việcliên quan đến dân quân tự vệ theo pháp luật vì các mục đích quốc phòngkhi tình trạng quốc phòng đang có hiệu lực; họ được phân công làm việc cho nhànước chỉ vì mục đích thực hiện các chức năng cảnh sát hoặc các chức năng tốicao khác trong việc quản lý nhà nước có thể được thực hiện bởi những người làmviệc cho nhà nước. Công việc được nói đến trong Câu đầu của khoản này bao gồmcác nghĩa vụ trong Lực lượng vũ trang, trong điều khoản về cung cấp quân sự, hoặccác cơ quan quản lý nhà nước; những nhiệm vụ đối với công việc liên quan đếncung cấp và phục vụ nhân dân cho phép đáp ứng các yêu cầu cơ bản  hoặc đểđảm bảo sự an toàn của họ.
(4) Trong tình trạng quốc phòng nếu có nhu cầu cần các dân quân tự vệ trong hệ thống sức khoẻ nhân dân hoặc trong các bệnh việnquân sự tại chỗ không thể được đáp ứng trên cơ sở tự nguyện, thì phụ nữ ở độ tuổitừ 18 đến 55 được kêu gọi phục vụ các nghĩa vụ ấy căn cứ theo pháp luật. Trongbất kỳ trường hợp nào thì họ cũng không làm công việc liên quan đến sử dụng vũkhí.
(5) Trước khi tồn tại tình trạng quốc phòng, các nhiệmvụ theo Khoản 3 của điều này được đưa ra chỉ nếu các yêu cầu Khoản 1 Điều 80ađược đáp ứng. Để chuẩn bị cho điều khoản về các nghĩa vụ theo Khoản 3 điềunày yêu cầu kiến thức đặc  biệt hoặc  các kỹ năng, thì việc tham gia vào các khoáđào  tạo được yêu cầu theo pháp luật.Trong trường hợp này điểm đầu tiên của khoản này không được áp dụng.
(6) Nếu như quốc phòng có nhu cầu về côngnhân trong các phạm vi được quy định tại Câu 2 khoản 3 điều này không đượcđáp ứng trên cơ sở tự nguyện, thì quyền từ bỏ nghề hoặc thay thế công việc củamọi công dân Đức bị giới hạn theo pháp luật để đáp ứng nhu cầu này. Trước khi gia nhập quân ngũ nhằm bảo vệ lợi ích quốc phòng thì áp dụng Khoản 5 Câu 1 của điều này.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch):
Artikel 13 
[Unverletzlichkeit der Wohnung]
(1) Die Wohnung ist unverletzlich.
(2) Durchsuchungen dürfen nur durch den Richter, bei Gefahr im Verzuge auchdurch die in den Gesetzen vorgesehenen anderen Organe angeordnet und nur in derdort vorgeschriebenen Form durchgeführt werden.
(3) Begründen bestimmte Tatsachen den Verdacht, daß jemand eine durch Gesetzeinzeln bestimmte besonders schwere Straftat begangen hat, so dürfen zurVerfolgung der Tat auf Grund richterlicher Anordnung technische Mittel zurakustischen Überwachung von Wohnungen, in denen der Beschuldigte sichvermutlich aufhält, eingesetzt werden, wenn die Erforschung des Sachverhaltsauf andere Weise unverhältnismäßig erschwert oder aussichtslos wäre. DieMaßnahme ist zu befristen. Die Anordnung erfolgt durch einen mit drei Richternbesetzten Spruchkörper. Bei Gefahr im Verzuge kann sie auch durch eineneinzelnen Richter getroffen werden.
(4) Zur Abwehr dringender Gefahren für die öffentliche Sicherheit, insbesondereeiner gemeinen Gefahr oder einer Lebensgefahr, dürfen technische Mittel zurÜberwachung von Wohnungen nur auf Grund richterlicher Anordnung eingesetztwerden. Bei Gefahr im Verzuge kann die Maßnahme auch durch eine anderegesetzlich bestimmte Stelle angeordnet werden; eine richterliche Entscheidungist unverzüglich nachzuholen.
(5) Sind technische Mittel ausschließlich zum Schutze der bei einem Einsatz inWohnungen tätigen Personen vorgesehen, kann die Maßnahme durch eine gesetzlichbestimmte Stelle angeordnet werden. Eine anderweitige Verwertung der hierbeierlangten Erkenntnisse ist nur zum Zwecke der Strafverfolgung oder derGefahrenabwehr und nur zulässig, wenn zuvor die Rechtmäßigkeit der Maßnahmerichterlich festgestellt ist; bei Gefahr im Verzuge ist die richterlicheEntscheidung unverzüglich nachzuholen.
(6) Die Bundesregierung unterrichtet den Bundestag jährlich über den nachAbsatz 3 sowie über den im Zuständigkeitsbereich des Bundes nach Absatz 4 und,soweit richterlich überprüfungsbedürftig, nach Absatz 5 erfolgten Einsatztechnischer Mittel. Ein vom Bundestag gewähltes Gremium übt auf der Grundlagedieses Berichts die parlamentarische Kontrolle aus. Die Länder gewährleisteneine gleichwertige parlamentarische Kontrolle.
(7) Eingriffe und Beschränkungen dürfen im übrigen nur zur Abwehr einergemeinen Gefahr oder einer Lebensgefahr für einzelne Personen, auf Grund einesGesetzes auch zur Verhütung dringender Gefahren für die öffentliche Sicherheitund Ordnung, insbesondere zur Behebung der Raumnot, zur Bekämpfung vonSeuchengefahr oder zum Schutze gefährdeter Jugendlicher vorgenommen werden.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 13
Bất khả xâm phạm về chỗ ở
(1) Chỗ ở là bất khả xâm phạm.
(2) Việc khám xét chỗ ở chỉ được thực hiện khi có lệnh của Thẩm phán hoặctrong trường hợp khẩn cấp không thể trì hoãn bởi các cơ quan khác được pháp luật quy định và theo các  hình thức luật định nghiêm ngặt.
(3) Nếu có những cơ sở thực tế xác đáng từ sự nghi ngờ rằng ai đó phạm một tội đặc biệt nghiêm trọng cụ thể theo luật định, thì được phép áp dụng các biệnpháp nghiệp vụ về khám xét chỗ ở, căn cứtheo lệnh của toà án. Các biện pháp này chỉ có thời hạnnhất định. Quyết định khám xét được Tòa án thông qua bởi một Hội đồng gồm ba thẩm phán có hội thẩm tham gia.Trong trường hợp khẩn cấp không thể trì hoãn, lệnh có thể được ban hành bởi một thẩm phán.
(4) Để ngăn chặn các nguy hiểm nghiêm trọng đến trật tự công, đặc biệt là cácnguy hiểm đối với cuộc sống hoặc đối với dân chúng, thì các biện pháp nghiệp vụ kĩ thuật khám xét nhà ở có thể được thực hiện chỉ trên cơ sở lệnh toà án. Trong trường hợp nguy hiểm không thể trì hoãn, các biện pháp như vậy được ra lệnh bởi một cơ quan quyền lực kháctheo luật định; Quyết định của toà án sẽ được thực thi ngay không trì hoãn.
(5) Nếu các biện pháp nghiệp vụ được cân nhắc để bảovệ con người được triển khai chính thức ở một chỗ ở nào đó, thì các biện pháp này chỉ được thực thi tại những địa điểm mà luật cho phép. Do đó, thông tin thu được chỉ đượcsử dụng cho các mục đích truy tố tội phạm hay ngăn chặn sự nguy hiểm, và các biện pháp này phải được luật cho phép;trong thời điểm quan trọng khẩn cấp thì quyết định của toà án được thi hành ngay không trì hoãn.
(6) Chính phủ liên bang báo cáo Hạ viện liên banghàng năm về việc sử dụng các biện pháp nghiệp vụ theo khoản (3) cũng như về thẩm quyền xét xử của liên bang theo khoản 4 và trong phạm vi mà yêu cầu sự đồng ý củatoà án theo khoản (5) điều này. Một hội đồng do Hạ viện bầu ra trên cơ sở báo cáo này sẽ thực thi quyền giám sát của Nghị viện. Các tiểu bang cũng bảo vệ quyền giám sát Nghị viện tương ứng của mình.
(7) Những can thiệp và hạn chế khác chỉ được phép áp dụng đểngăn chặn tổn  hại đến cộng  đồng và cuộc sống của mỗi cá nhân, hoặc căn cứ theo một đạo luật để loại trừ tác hạinghiêm trọng đến trật tự và an toàn chung, đặc biệt là để làm giảm thiểu tình trạng thiếu nhà ở, chống  lại nguy cơ dịchbệnh hoặc để bảo vệ những thanh thiếu niên.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 14
[Eigentum, 
Erbrecht, Enteignung]
(1) Das Eigentum und das Erbrecht werden gewährleistet. Inhalt und Schrankenwerden durch die Gesetze bestimmt.
(2) Eigentum verpflichtet. Sein Gebrauch soll zugleich dem Wohle derAllgemeinheit dienen.
(3) Eine Enteignung ist nur zum Wohle der Allgemeinheit zulässig. Sie darf nurdurch Gesetz oder auf Grund eines Gesetzes erfolgen, das Art und Ausmaß derEntschädigung regelt. Die Entschädigung ist unter gerechter Abwägung derInteressen der Allgemeinheit und der Beteiligten zu bestimmen. Wegen der Höheder Entschädigung steht im Streitfalle der Rechtsweg vor den ordentlichenGerichten offen.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 14
Quyền tài sản, 
quyền thừa kế, việc sung công
(1) Quyền tài sản và quyền thừa kế tài sản được bảo vệ. Nộidung và các giới hạn của quyền này được quy định rõ trong một đạo luật cụ thể.
(2) Tài sản cá nhân có thể được dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ. Việc sử dụng tài sản cá nhân cũng nên đồng thời phụcvụ cho lợi ích chung của cộng đồng.
(3) Tịch thu tài sản sung công chỉ nhằm phục vụ cho lợi ích chung. Cách thức bồi hoàn sẽ do một đạo luật riêng hoặc trên cơ sở của đạo luật riêng qui định. Việc bồi thường được thực hiện trên cơ sở cân nhắc lợi ích chung và lợi ích của các bên liên quan. Trong trường hợp có tranh chấp về mức tiền bồithường thì có thể cầu viện đến các toà án thường để giải quyết.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 15  
[Sozialisierung]
Grund und Boden, Naturschätze und Produktionsmittel können zum Zwecke derVergesellschaftung durch ein Gesetz, das Art und Ausmaß der Entschädigungregelt, in Gemeineigentum oder in andere Formen der Gemeinwirtschaft überführtwerden. Für die Entschädigung gilt Artikel 14 Absatz 3 Satz 3 und 4entsprechend.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 15
Vấn đề xã hội hoá
Thông qua một đạo luật cụ thể, đất đai, tài nguyên thiên nhiên và các phương tiện sảnxuất có thể được qui định vì mục đích xã hội hóa, đạo luật này sẽ qui định cách thức bồi hoàn, dựa trên cơ sở tính toán nguồn công quĩ hoặc các hình thức, công cụ khác của kinh tế công. Điều 14 Khoản 3 Câu 3 và câu 4 sẽ được áp dụng tương ứng cho việc bồi thường.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 16 
[Verbot der Ausbürgerung, 
Auslieferung]
(1) Die deutsche Staatsangehörigkeit darf nicht entzogen werden. Der Verlustder Staatsangehörigkeit darf nur auf Grund eines Gesetzes und gegen den Willendes Betroffenen nur dann eintreten, wenn der Betroffene dadurch nichtstaatenlos wird.
(2) Kein Deutscher darf an das Ausland ausgeliefert werden. Durch Gesetz kanneine abweichende Regelung für Auslieferungen an einen Mitgliedstaat derEuropäischen Union oder an einen internationalen Gerichtshof getroffen werden,soweit rechtsstaatliche Grundsätze gewahrt sind.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 16
Cấm tước quyền có quốc tịch; 
việc dẫn độ
(1) Quốc tịch Đức không được phép bị tước bỏ. Mất quốc tịch chỉ cóthể trên cơ sở một đạo luật cụ thể và khi người liên quan tự nguyện từ bỏ và người đó đã có một quốc tịch khác.
(2) Không một công dân Đức nào bị dẫn độ ra nướcngoài. Ngoại lệ dẫn độ sang nước thành viên trong Cộng đồng châu Âu hay đến mộtTòa án quốc tế có thể được thực hiện theo một đạo luật cụ thể, nếu như đạo luậtđó phù hợp với các nguyên tắc nhà nước pháp quyền.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 16a
[Asylrecht]
(1) Politisch Verfolgte genießen Asylrecht.
(2) Auf Absatz 1 kann sich nicht berufen, wer aus einem Mitgliedstaat derEuropäischen Gemeinschaften oder aus einem anderen Drittstaat einreist, in demdie Anwendung des Abkommens über die Rechtsstellung der Flüchtlinge und derKonvention zum Schutze der Menschenrechte und Grundfreiheiten sichergestelltist. Die Staaten außerhalb der Europäischen Gemeinschaften, auf die dieVoraussetzungen des Satzes 1 zutreffen, werden durch Gesetz, das der Zustimmungdes Bundesrates bedarf, bestimmt. In den Fällen des Satzes 1 könnenaufenthaltsbeendende Maßnahmen unabhängig von einem hiergegen eingelegten Rechtsbehelfvollzogen werden.
(3) Durch Gesetz, das der Zustimmung des Bundesrates bedarf, können Staatenbestimmt werden, bei denen auf Grund der Rechtslage, der Rechtsanwendung undder allgemeinen politischen Verhältnisse gewährleistet erscheint, daß dort wederpolitische Verfolgung noch unmenschliche oder erniedrigende Bestrafung oderBehandlung stattfindet. Es wird vermutet, daß ein Ausländer aus einem solchenStaat nicht verfolgt wird, solange er nicht Tatsachen vorträgt, die die Annahmebegründen, daß er entgegen dieser Vermutung politisch verfolgt wird.
(4) Die Vollziehung aufenthaltsbeendender Maßnahmen wird in den Fällen desAbsatzes 3 und in anderen Fällen, die offensichtlich unbegründet sind oder alsoffensichtlich unbegründet gelten, durch das Gericht nur ausgesetzt, wennernstliche Zweifel an der Rechtmäßigkeit der Maßnahme bestehen; derPrüfungsumfang kann eingeschränkt werden und verspätetes Vorbringenunberücksichtigt bleiben. Das Nähere ist durch Gesetz zu bestimmen.
(5) Die Absätze 1 bis 4 stehen völkerrechtlichen Verträgen von Mitgliedstaatender Europäischen Gemeinschaften untereinander und mit dritten Staaten nichtentgegen, die unter Beachtung der Verpflichtungen aus dem Abkommen über dieRechtsstellung der Flüchtlinge und der Konvention zum Schutze derMenschenrechte und Grundfreiheiten, deren Anwendung in den Vertragsstaatensichergestellt sein muß, Zuständigkeitsregelungen für die Prüfung vonAsylbegehren einschließlich der gegenseitigen Anerkennung vonAsylentscheidungen treffen.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 16a
Quyền tỵ nạn
(1) Những người bị ngược đãi về chính trị đều có quyềntỵ nạn.
(2) Khoản 1điều này không được viện  dẫn  áp dụng đối với người vào lãnh thổ liên bang từ mộtnước thành viên Cộng đồng Châu Âu hoặc từ nước thứ ba khác mà việc áp dụng hiệpđịnh liên quan đến tình trạng tỵ nạn và hiệp định về bảo vệ nhân quyền và cácquyền tự do cơ bản được bảo đảm. Các nước ngoài khối Cộng đồng Châu Âu theotiêu chí áp dụng  của Câu 1 khoản này đượcđịnh rõ bởi một đạo luật riêng, đạo luật đó cần phải có sự đồng ý phê chuẩn của Thượng nghị viện (Bundesrat). Trong các trườnghợp được quy định tại Câu 1 khoản này thì các biện pháp trục xuất người  tỵ nạn có thể được áp dụng bất cứ khi nào,không phụ thuộc vào bất cứ sự phản đối pháp lý nào.
(3) Một đạo luật cụ thể, trên cơ sở có sự đồng thuận của Thượng viện, có thể liệt kê các nhà nước, mà ở đó dựa trên hệ thống pháp luật, áp dụng pháp luật không có tình trạng khủng bố chính trị hoặc đối xử vô nhân đạo hay đối xử tàn ác. Có thể giả định rằng, một người nước ngoài từ một  nướcnhư vậy không bị ngược đãi theo dõi về chính trị, nếu người đó không có chứng cứ chứngminh cho kết luận người đó bị ngược đãi vì lý do chính trị.
(4) Việc áp dụng biện pháp trục xuất có hiệu lực đối với các trường hợp của khoản 3 và các trường hợp mà không thể có được bằng chứng xác thực thì việc thực hiệncác biện pháp để chấm dứt thời hạn ở lại của một người tỵ nạn có thể bị đình chỉbởi toà án chỉ khi có các nghi ngờ nghiêm trọng về tính hợp pháp; phạm vi xemxét có thể được giới hạn và những phản hồi chậm sẽ không được xem xét đến. Luậtquy định các điều khoản chi tiết.
(5) Các Khoản từ 1 đến 4 của điều này không ngăn cản các hiệp định quốc tế của các nước thành viên trong khối  Cộng  đồngChâu Âu với nhau hoặc  với các nước thứba để ý tới những nghĩa vụ phát sinh từ Hiệp định về tình trạng tỵ nạn và Hiệpđịnh về bảo vệ nhân quyền và các quyền tự do cơ bản mà việc thi hành các hiệp địnhđó phải được đảm bảo trong các nước có ký kết thông qua các quy tắc thẩm quyền thực thi pháp luật để xem xét các đơn đăng ký tỵ nạn bao gồm việc côngnhận giữa các bên về các quyết định tỵ nạn.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 17
[Petitionsrecht]
Jedermann hat das Recht, sich einzeln oder in Gemeinschaft mit anderenschriftlich mit Bitten oder Beschwerden an die zuständigen Stellen und an dieVolksvertretung zu wenden.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 17
Quyền kiến nghị
Mọi người đều có quyền tự mình hoặc cùng với những ngườikhác gửi các đề nghị cá nhân hoặc các đơn khiếu nại tới các cơ quan có thẩmquyền liên quan và đến cơ quan dân cử.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 17a 
[Grundrechtsbeschränkungen im Wehrbereich]
(1) Gesetze über Wehrdienst und Ersatzdienst können bestimmen, daß für dieAngehörigen der Streitkräfte und des Ersatzdienstes während der Zeit des Wehr-oder Ersatzdienstes das Grundrecht, seine Meinung in Wort, Schrift und Bildfrei zu äußern und zu verbreiten (Artikel 5 Absatz 1 Satz 1 erster Halbsatz),das Grundrecht der Versammlungsfreiheit (Artikel 8) und das Petitionsrecht(Artikel 17), soweit es das Recht gewährt, Bitten oder Beschwerden inGemeinschaft mit anderen vorzubringen, eingeschränkt werden.
(2) Gesetze, die der Verteidigung einschließlich des Schutzes derZivilbevölkerung dienen, können bestimmen, daß die Grundrechte derFreizügigkeit (Artikel 11) und der Unverletzlichkeit der Wohnung (Artikel 13)eingeschränkt werden.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 17a
Giới hạn 
về các quyền cơ bản cụ thể
trong lĩnh vực an ninh
(1) Các đạo luật về nghĩa vụ quân sự và lao động côngích có thể quy định các giới hạn cụ thể quyền cơ bản của những người tham gia lực lượng vũ trang và lao động công ích trong thời gian phục vụ, như quyền được tự do ngôn luận thể hiện bằng lời nói, chữ viết và hình ảnh (Điều 5 khoản1 câu 1), quyền biểu tình (Điều 8), và quyền kiến nghị (Điều 17) trong phạm vimà quyền này cho phép có thể đệ trình các kiến nghị tập thể.
(2) Các đạo luật, mà phục vụ lợi ích quốc phòng nhằm mục đích bảo vệ nhân dân, có thểquy định giới hạn các quyền cơ bản như quyền tự do đi lại (Điều 11) và bất khảxâm phạm nơi ở (Điều 13).
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 18
[Verwirkung 
von Grundrechten]
Wer die Freiheit der Meinungsäußerung, insbesondere die Pressefreiheit (Artikel5 Absatz 1), die Lehrfreiheit (Artikel 5 Absatz 3), die Versammlungsfreiheit(Artikel 8), die Vereinigungsfreiheit (Artikel 9), das Brief-, Post- und Fernmeldegeheimnis(Artikel 10), das Eigentum (Artikel 14) oder das Asylrecht (Artikel 16a) zumKampfe gegen die freiheitliche demokratische Grundordnung mißbraucht, verwirktdiese Grundrechte. Die Verwirkung und ihr Ausmaß werden durch dasBundesverfassungsgericht ausgesprochen.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 18
Tước các quyền cơ bản
Bất cứ ai lạm dụng quyền tự do ngôn luận, đặc biệt làtự do báo chí (Điều 5 khoản 1), tự do giảng dạy (Điều 5 khoản 3), tự do biểutình (Điều 8), tự do lập hội (Điều 9), quyền bí mật về thư tín, điện tín, viễnthông (Điều 10), quyền về tài sản (Điều 14) hoặc quyền tỵ nạn (Điều 16a) để chốnglại trật tự tự do dân chủ cơ bản, người đó sẽ bị tước những quyền cơ bản này.Việc tước quyền và phạm vi tước quyền sẽ được tuyên bởi Toà án Hiến pháp liênbang.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch):
Artikel 19 
[Einschränkung von Grundrechten]
(1) Soweit nach diesem Grundgesetz ein Grundrecht durch Gesetz oder auf Grundeines Gesetzes eingeschränkt werden kann, muß das Gesetz allgemein und nichtnur für den Einzelfall gelten. Außerdem muß das Gesetz das Grundrecht unterAngabe des Artikels nennen.
(2) In keinem Falle darf ein Grundrecht in seinem Wesensgehalt angetastetwerden.
(3) Die Grundrechte gelten auch für inländische juristische Personen, soweitsie ihrem Wesen nach auf diese anwendbar sind.
(4) Wird jemand durch die öffentliche Gewalt in seinen Rechten verletzt, sosteht ihm der Rechtsweg offen. Soweit eine andere Zuständigkeit nicht begründetist, ist der ordentliche Rechtsweg gegeben.
Artikel 10 Abs. 2 Satz 2 bleibtunberührt.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 19
Giới hạn các quyền cơ bản
(1) Nếu một quyền cơ bản nào trong Luật cơ bản này bịgiới hạn bởi một đạo luật hoặc trên cơ sở một đạo luật nào cụ thể, thì đạo luật đó phải được áp dụng chung và không là ngoại lệdành riêng cho một trường hợp cá biệt nào. Ngoài ra, đạo luật đó phải trích dẫn rõ quyền cơbản với đầy đủ thông tin về điều khoản của Luật cơ bản này.
(2)  Trong mọitrường hợp một quyền cơ bản không được tự mâu thuẫn với chính nội dung bản chấtcủa quyền đó.
(3) Các quyền cơ bản cũng áp dụng cho những pháp nhân trongnước, trong phạm vi các quyền đó về bản chất cho phép được áp dụng.
(4) Bất cứ ai cho rằng quyền cơ bản của mình bị xâm phạmbởi công quyền, thì người đó có thể khởi kiện bằng con đường Toà án. Nếu khôngcó cơ quan xét xử nào phù hợp về mặt thẩm quyền, thì Toà án thường sẽ có thẩmquyền giải quyết. Điều 10 Khoản 2 Câu 2 không bị ảnh hưởng bởi khoản này.

05:32 | Posted in , , | Read More »