BỨC TRANH ĐA SẮC CỦA TRUYỀN THÔNG VIỆT NAM 2011

Tác giả: Hữu Long
Nguồn: Tạp chí Tia sáng, đăng ngày 20/12/2011, truy cập tại đây
 
Chúng ta sắp đi qua một năm 2011 sôi động với những sự kiện nổi bật, biến chuyển sâu sắc của đời sống xã hội trên nhiều lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục..., và đã được phản ánh sinh động qua bức tranh đa sắc của truyền thông Việt Nam .

Lạm phát và đòi hỏi tái cấu trúc nền kinh tế


Câu chuyện về vấn đề lạm phát của Việt Nam vốn đã nóng bỏng từ năm 2007, nhưng sau đó chìm dưới bóng cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Sang năm 2011, song song với tình hình khủng hoảng nợ công châu Âu, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu lộ rõ những vấn đề bất ổn riêng, với mức lạm phát chạm mức 20%, rất cao so với mặt bằng chung của khu vực và quốc tế; trong khi đó, mức nợ công tuy chưa vượt ngưỡng an toàn (nếu theo quy chuẩn của EU là 60%) nhưng vẫn đang lặng lẽ nhích lên.
Báo chí trong nước đã có nhiều bài phân tích đánh giá, chỉ ra nguyên nhân của bất ổn kinh tế Việt Nam là do cơ cấu đầu tư bất hợp lý, chi tiêu công quá cao và thiếu hiệu quả, mức tăng cung tiền quá nhanh thể hiện qua mức tăng tín dụng cao hơn nhiều so với mức tăng GDP, năng suất lao động không tăng tương xứng với mức tăng nhu cầu tiêu thụ (đặc biệt là nhập khẩu) .v.v. Những khó khăn trong đời sống người dân và doanh nghiệp dưới sức ép của lạm phát cùng mức lãi suất cao vọt đã được phản ánh trung thực kịp thời, góp phần thúc đẩy Chính phủ phải hành động. 

Nhìn chung, trong giám sát việc thực thi các giải pháp và chính sách kinh tế của Chính phủ thì báo chí và dư luận đã theo dõi khá sát những vấn đề mang tính bề nổi, những giải pháp ngắn hạn tạm thời, ví dụ như chính sách bình ổn giá xăng, giá điện. Câu chuyện kiểm soát giá  trở thành tiêu điểm chú ý của công chúng khi có lúc quan điểm giữa hai Bộ Tài chính và Bộ Công thương tương phản gay gắt, trong đó quan điểm của Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ trong việc giám sát chặt chẽ tình hình lỗ lãi của các doanh nghiệp xăng dầu được sự đồng tình rộng rãi của dư luận.

Tuy nhiên, chưa có nhiều những đánh giá sắc nét đối với những vấn đề mang tính dài hơi hơn, như đánh giá hiệu quả chính sách của Chính phủ trong tái cơ cấu đầu tư công, hoặc đánh giá triển vọng an toàn nợ công trong bối cảnh Chính phủ sẽ phải gia tăng vay nợ để đầu tư cho hạ tầng phục vụ công nghiệp hóa, trong đó nổi rõ nhất là dự án điện hạt nhân Ninh Thuận mà riêng thỏa thuận sơ bộ về tài chính giữa Nga và Việt Nam ký trong năm nay đã lên tới 8 tỷ USD.

Bảo vệ chủ quyền: báo chí cũng là chiến sĩ


Năm 2011 chứng kiến sự vào cuộc mạnh mẽ của báo chí trên mặt trận bảo vệ chủ quyền quốc gia, khởi đầu từ vụ cắt cáp tàu thăm dò địa chấn Bình Minh 02 của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam gây ra bởi tàu hải giám Trung Quốc ngày 26/5 và vụ việc tương tự xảy ra ngày 9/6 với tàu Viking II.

Ngay khi báo PetroTimes của Tập đoàn Dầu khí, thông tin về các hành vi xâm phạm chủ quyền Việt Nam đã ngay lập tức lan truyền đến gần như tất cả các mặt báo. Sự cứng rắn và quyết liệt của báo chí đã khẳng định những quan điểm bảo vệ chủ quyền và xử lý tranh chấp  trên biển của Việt Nam, đồng thời cổ vũ một cách mạnh mẽ lòng yêu nước và tự cường dân tộc. Làn sóng yêu nước của nhân dân đã hậu thuẫn một cách hữu hiệu cho thế và lực của ngoại giao Việt Nam trên trường quốc tế. Tiếng nói của nhân dân giúp khẳng định tính chính danh trong quan điểm của Việt Nam về biển Đông, qua đó thu hút sự ủng hộ của bạn bè quốc tế.

Không chỉ các Chính phủ trên thế giới mà ngay cả báo chí quốc tế cũng bày tỏ sự quan tâm một cách công bình, khách quan về diễn biến trên biển Đông. Điểm nhấn quan trọng là qua những nỗ lực không mệt mỏi của giới khoa học Việt Nam, hai tạp chí khoa học hàng đầu trên thế giới là Nature và Science đã nhận thức rõ và lên tiếng cảnh báo về tình trạng lợi dụng khoa học cho mục đích tuyên truyền của Trung Quốc về chủ quyền trên biển Đông.

Có thể thấy rằng, sự đoàn kết của mọi tầng lớp nhân dân và việc cung cấp thông tin, phản ánh các quan điểm, ý kiến người dân của báo chí đã góp phần quan trọng, đem đến những chuyển biến tích cực cho Việt Nam trong quá trình giải quyết vấn đề biển Đông. 

Giáo dục và mảng tối của những giá trị giả

Giáo dục Việt Năm năm qua tiếp tục là một mảng màu tối trong bức tranh chung. Đầu tiên là nạn đạo văn, mà cứ lâu lâu lại thấy báo chí phản ánh, và điều đáng nói là hiện tượng đạo văn xảy ra trong đội ngũ những người… học cao: giáo sư, tiến sĩ, giảng viên ĐH… Cho tới những ngày cuối cùng của năm 2011 này, báo chí còn tiếp tục “tố” việc một giảng viên ĐH Đồng Nai mượn hàng chục trang tài liệu của đồng nghiệp để làm luận án tiến sĩ.

Song song với đạo văn là vấn nạn bằng giả. Một trong các vụ đình đám là, vào giữa năm, Huyện ủy An Phú (An Giang) bê bối vì có tới 52 cán bộ Đảng viên ở đây bị phát hiện dùng bằng giả. Một số người trong đó thừa nhận đã chi tiền (dăm bảy triệu đồng) để mua bằng; một chủ tịch xã bị tố cáo nhờ người thi hộ THPT bổ túc (!).

Liên tiếp những vụ việc sử dụng bằng giả bị “phơi áo” trên báo chí từ Phó phòng CSGT đến lãnh đạo cấp cao của ngân hàng, y tế bị phản ánh không trung thực khi khai báo bằng cấp và sử dụng bằng rởm.

Cứ mỗi khi một vụ đạo văn hay xài bằng giả bị tung lên báo, dư luận lại ồn ào, rồi mọi nguyên nhân sâu xa đều lại được quy cho giáo dục: Chỉ có một nền giáo dục kém chất lượng, rất có vấn đề về tiêu chuẩn đánh giá, mới không phân biệt nổi thực tài và bất tài, mới chấp nhận những dối trá, lừa lọc, “nén bạc đâm toạc tờ giấy” như thế. Nhưng, xét cho cùng thì ngay cả giáo dục kém có lẽ cũng chưa phải nguyên nhân sâu xa của hiện tượng, mà sâu nhất là cơ chế tuyển dụng, dùng người trong xã hội ta có những biểu hiện bất ổn. Rõ ràng là chỉ ở một cơ chế trọng bằng cấp, gắn bằng cấp (thay vì năng lực thực tiễn) với chức vụ và bổng lộc, trọng hư danh, cán bộ mới bị “kích thích” phải chạy bằng cấp, phải trộm văn của người làm của mình một cách sôi nổi như thế.

Luật biểu tình và “hiệu ứng Hoàng Hữu Phước”

Sau những tổng kết thực tiễn quan trọng, Chính phủ và Quốc hội đã đồng thời thúc đẩy sự ra đời của Luật biểu tình trong kỳ họp Quốc hội tháng 11/2011. Mọi chuyện sẽ có thể êm đềm trôi qua và dự án Luật biểu tình sẽ được đưa vào chương trình nghị sự của Quốc hội trong nhiệm kỳ 2011-2016 một cách suôn sẻ, nếu như không có một bất ngờ đến từ tân đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước (TP.HCM).

Viện dẫn lý do dân trí chưa đủ cao và những thông tin thiếu chính xác và không khách quan, ông Phước đã bác bỏ nỗ lực luật hóa quyền biểu tình vốn đã được Hiến pháp 1992 thừa nhận. Ngay lập tức, trên cả báo chí lẫn các mạng xã hội, “hiệu ứng Hoàng Hữu Phước” đã tạo ra một cuộc tranh luận chính trị nảy lửa và rộng lớn với rất nhiều trải nghiệm thú vị.

Chính nhờ từ bài phát biểu “lạ”đã là một trong những nguyên nhân khiến những giá trị lý luận và thực tiễn của quyền biểu tình giành được sự quan tâm rất lớn của dư luận, và càng cho thấy rằng việc xây dựng luật này hiện nay là cần thiết, đáp ứng nhu cầu chính đáng của nhân dân, và phù hợp với sự phát triển của xã hội hướng tới văn minh tiến bộ.

Lê Văn Luyện và sự mắc lỡm của báo chí

Một trong những lý do khiến cho làng báo trở nên bận rộn bất thường trong năm 2011 là vụ án tiệm vàng Ngọc Bích (Bắc Giang) ngày 24/8. Lê Văn Luyện, người mà cho đến nay vẫn chưa bị kết tội, trở thành tấm bia hứng chịu mọi sự phẫn nộ của xã hội, trong đó dường như lực lượng phóng viên là những người tích cực nhất.

Độc giả được cập nhật từng phút, từng giờ các thông tin của vụ án, từ việc lực lượng chức năng đã phá án ra sao, mô tả hiện trường như thế nào, Lê Văn Luyện gây án một mình hay có đồng bọn, anh ta đã nhận tội ra sao, ăn gì trước khi gây án, béo lên hay gầy đi sau mấy tháng ở trại,… Cũng có những hình ảnh về cánh tay bị chém đứt lìa của cháu bé nạn nhân được một số tờ báo đăng tải.

Sau tất cả những sự phẫn nộ bùng nổ trên mặt báo, dường như không có nhiều phóng viên nhận ra rằng, họ đã đứng sai vị trí của mình khi thay mặt cho tòa án để kết tội Lê Văn Luyện. Nguyên tắc suy đoán vô tội, theo đó, không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực của tòa án, đã không được hầu hết phóng viên và phần lớn độc giả quan tâm. Bài viết với tiêu đề “Nếu phạm tội, Lê Văn Luyện có bị tử hình?” đăng trên báo Người Lao Động ngày 31/8 trở thành một ngoại lệ hiếm hoi trong cả dàn đồng ca “đòi nợ máu” của cả báo chí lẫn dư luận.

Bộ trưởng Đinh La Thăng: làn gió mới trên chính trường

Ông Đinh La Thăng là một gương mặt mới trên chính trường trên cương vị Bộ trưởng Giao thông – Vận tải.

Sự quyết liệt trong cả lời nói lẫn hành động của ông đã thổi vào chính trường một luồng gió mới mẻ, dường như đánh thức rất nhiều quan chức đang ngủ say và khơi dậy tinh thần cống hiến chính trị - cái mà từ lâu chỉ thường được tìm thấy trên các văn bản báo cáo thành tích. Quá phấn khích với điều này, báo chí đã lập tức biến ông Đinh La Thăng thành một “hiện tượng”.

Thế rồi không lâu sau đó, cũng chính báo chí đã tô đậm hình ảnh một Bộ trưởng của những quyết định vi hiến và phong cách điều hành có phần gia trưởng, bất chấp họ tán dương hay phê phán những quyết định cấm cán bộ chơi golf và yêu cầu thuộc cấp đi làm bằng xe buýt do chính ông ban hành. Và bản thân ông Thăng, sau một thời gian làm tốn nhiều giấy mực của báo chí, dường như cũng đã tự hạ nhiệt cơn sốt mang tên mình bằng những hình ảnh vui nhộn của ông trên sân bóng. Dư luận hi vọng tiền đạo Đinh La Thăng sẽ giữ được thói quen ghi bàn trong những trận đấu then chốt với nạn tắc đường, tai nạn giao thông và đầu tư xây dựng cơ bản. 

Maraton truyền thông: Rùa thắng tê giác

Năm 2011 chứng kiến sự thiên lệch rất rõ rệt của báo chí dành cho hai sự kiện có tính chất và mức độ nghiêm trọng khá tương đồng, đó là chiến dịch giải cứu “cụ Rùa” và sự tuyệt chủng của loài tê giác Java ở Việt Nam.

Ấn tượng để lại cho dư luận trong chiến dịch giải cứu “cụ Rùa”, tiếc thay, tập trung nhiều vào hàng loạt bản tin về sự rề rà của những cuộc họp, hội thảo đánh giá tình hình, tìm kiếm giải pháp; sự rình rang trong việc triển khai giải pháp khi huy động hàng chục dân quân, cứu hộ viên tiến hành thử nghiệm đủ các giải pháp, đến khi làm thật thì người ta dùng một chiếc lưới “hàng chợ” kém chất lượng và để “cụ” trốn mất. Có lẽ do cảm thấy bế tắc trước một việc tưởng chừng rất đơn giản này, có vị doanh nhân nọ còn cao hứng đề xuất dùng trực thăng để trục vớt “cụ”. Báo chí theo sát từng bước trong suốt hành trình giải cứu kéo dài hàng tháng trời và đây có thể là tư liệu quý cho các tác giả kịch bản hài kịch ở Việt Nam, vốn là những người luôn than bí đề tài.

Rình rang và dồn dập đưa tin về “cụ” Rùa bao nhiêu, báo chí lại lạnh nhạt bấy nhiêu với cái chết của cá thể tê giác Java cuối cùng ở Việt Nam. Một viên đạn được tìm thấy ở chân cá thể này và chiếc sừng của nó đã bị cắt mất. Những thông tin đau xót từ các Quỹ bảo vệ động vật thế giới dễ dàng chìm trong quên lãng, trong khi những vết lở loét ở thân “cụ Rùa” trở thành đề tài thu hút sự quan tâm của các phóng viên trong nhiều tháng trời, ngay cả khi dư luận đã khá yên tâm rằng chúng không mấy nguy hiểm. Điều này phản ánh một thực tế là lâu nay báo chí đã chưa làm được nhiều trong việc gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh về thảm họa mất đa dạng sinh học, vấn đề nghiêm trọng có tính chất toàn cầu.

Thủng lưới… VFF

Nếu như đội tuyển U23 Việt Nam bế tắc trong việc tìm đường đến khung thành đối phương ở SEA Games 26 thì các ông chủ ở các CLB lại ghi được những bàn thắng ngoạn mục vào lưới… VFF (Liên đoàn Bóng đá Việt Nam). Phát biểu gay gắt của bầu Kiên (Hà Nội ACB) tại Hội nghị tổng kết V-League mùa giải 2011 đã vỗ mặt VFF với đủ các nghi vấn từ đạo đức trọng tài cho đến năng lực điều hành của bộ máy Liên đoàn.

Hiệu ứng từ bài phát biểu để đời này của bầu Kiên sẽ không thể xảy ra, nếu trước đó ông không khôn khéo kéo báo chí vào trụ sở VFF, vốn có truyền thống “đổ bê tông” ngăn chặn mọi pha “lên bóng” của cánh phóng viên. Ở một tổ chức xã hội hóa cao như VFF, nơi quyền lực thực sự không hoàn toàn nằm trong tay lãnh đạo liên đoàn và bộ mặt của nó được phơi bày trên sân bóng với camera chụp chiếu đủ bốn góc, người ta không thể không đếm xỉa đến phản ứng của báo chí và dư luận.

Sự vào cuộc tích cực của các phóng viên đã kích hoạt một làn sóng phản đối VFF và cuối cùng đưa đến một cuộc cách mạng với sự ra đời của một mô hình quản lý hoàn toàn mới: Công ty Cổ phần Bóng đá Việt Nam – VPF. Thế mới biết, khi sức mạnh giám sát của báo chí được coi trọng thì mành lưới nào cũng có khả năng bị xuyên thủng.

22:40 | Posted in | Read More »

NÓI VÀ LÀM: MẤT CƠ HỘI VÌ CẢI CÁCH KIỂU CHẬM ĐỀU

Tác giả: Lê Khắc
Nguồn: Diễn đàn kinh tế Việt Nam (VEF), 
đăng ngày 5/12/2011,
truy cập tại địa chỉ: http://vef.vn/2011-12-04-noi-va-lam-mat-co-hoi-vi-cai-cach-kieu-cham-deu  

(VEF.VN) - Những hạn chế của môi trường kinh doanh Việt Nam tiếp tục kéo dài và chậm cải thiện đang làm mất lòng tin của nhiều nhà đầu tư nước ngoài ngay cả với DN trong nước.

Trong khi kinh tế khó khăn, môi trường kinh doanh càng cần được cải thiện một cách mạnh mẽ và quyết liệt. Đó là sự hỗ trợ lớn nhất của Nhà nước cho cộng đồng doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong năm 2011, điều đó đã không được thể hiện. Xếp hạng môi trường kinh doanh Việt Nam tụt hạng, đã có nhiều than phiền từ DN trong nước và cộng đồng đầu tư nước ngoài.

Không ít lời cảnh báo cho biết, sẽ từ bỏ Việt Nam tìm đến những thị trường khác nếu việc cải thiện môi trường đầu tư không có đột biến và vẫn duy trì tốc độ chậm đều như hiện nay.

Trong báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam xếp thứ 98 trên tổng số 183 nước trong bảng xếp hạng môi trường kinh doanh năm 2012, giảm 8 bậc so với năm 2011.


Trong khi đó, cộng đồng các nhà DN Châu Âu (EuroCham) ở Việt Nam cũng công bố Sách Trắng 2012 - "Các vấn đề Thương mại - Đầu tư và kiến nghị" trong đó thể hiện sự thất vọng về việc cải thiện môi trường kinh doanh ở Việt Nam và lòng tin của DN châu Âu với Việt Nam đã có chiều hướng giảm mạnh từ đầu năm 2011.

Trọng một điều tra gần đây nhất (10/2011) về chỉ số môi trường kinh doanh hàng quý (BCI) của EuroCham Việt Nam, chỉ số môi trường kinh doanh của Việt Nam đã giảm từ 78 xuống còn 52 điểm. Điều đó thể hiện một sự sụt giảm về lòng tin của nhà đầu tư châu Âu tại Việt Nam. Các doanh nghiệp châu Âu đang ngày càng lo ngại về môi trường đầu tư và kinh doanh tại Việt Nam.

Đáng chú ý, báo cáo tại Diễn đàn DN Việt Nam đã cho rằng, mức độ cải thiện môi trường kinh doanh ở lĩnh vực gắn liền với chi phí đầu vào, đó là thuế và đất đai lại không có chuyển biến nhiều. Cùng đó, nhóm vấn đề ít cải thiện nhất năm 2011, bên cạnh bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, hàng nhái hàng giả, VBF cho biết còn có nhóm vấn đề tiếp cận đất đai và tiếp cận ngoại tệ. 
Đặc biệt, lần đầu tiên, vấn đề quản lý kinh tế vĩ mô của Chính phủ được xếp vào nhóm 3 lĩnh vực đáng lo ngại nhất. Điều này là rất đáng lo ngại vì ổn định vĩ mô vốn là một thế mạnh của Việt Nam thì bất ổn kinh tế vĩ mô đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động của doanh nghiệp.

Chưa thể hài lòng với tốc đô cải thiện môi trường đầu tư chậm trong những lĩnh vực rất nhạy cảm với DN. Các nhà đầu tư tiếp tục chỉ ra những lĩnh vực mà Việt Nam cần cải thiện như: cải thiện và đơn giản hóa thủ tục hành chính, cải thiện hệ thống thông tin và viễn thông năng lượng, cải thiện hạ tầng vận tải, giảm rào cản gia nhập thị trường, vấn đề nhân lực...

Rõ ràng, đây không phải là những đề xuất mới mà là những vấn đề đã lặp đi lặp lại rất nhiều lần trong đề xuất của các nhà đầu tư. Hơn thế, đây cũng chính là những nội dung mà Việt Nam đã nhận biết và rất nỗ lực để cải thiện.

Tuy nhiên, điều đáng tiếc là cho đến nay nhưng đề án, kế hoạch, các chương trình cải cách vẫn chưa đem lại được nhiều đột phá để thể hiện được ưu thế của Việt Nam trong canh tranh với các nền kinh tế khác.

Từ những cảnh báo này, nhìn lại trên thực tế cho thể thấy có rất nhiều hạn chế kéo dài, và đến nay như đã trở thành một thực tế tất yếu đầy thất vọng.

Đó chính là việc thiếu hụt năng lượng. Hàng năm, Việt Nam đang đối mặt với tình trạng thiếu điện trầm trọng. Thế nhưng, hàng loạt nhà máy điện, công trình lưới điện đã được quy hoạch, khởi công... lại liên tục bị chậm tiến độ.

Quy hoạch điện VI đi vào kết thúc với khiếm khuyết lớn nhất là hàng chục nhà máy điện đã không được xây dựng theo tiến độ. Còn Quy hoạch điện VII khởi động lại đối mặt với vấn đề thiếu hụt tài chính, thua lỗ từ EVN... khiến cho nó lại được cảnh báo lặp lại trình trạng cũ. Và tất nhiên, với thực tế đó, năng lượng thiếu hụt vẫn còn kéo dài.

Mới đây, Bộ Giao thông Vận tải đã phải thông xe tạm một đoạn trên đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình vì đoạn đường cao tốc huyết mạch này đã chậm nhiều năm, Việc thông xe tạm để giảm tải cho Quốc lộ I chỉ như là một biện pháp cấp cứu cho con đường huyết mạch Bắc - Nam đã xuống cấp và quá tải trầm trọng.

Không những thế, hàng loạt đầu mối giao thông quốc tế lớn như: Vân Phong ở Khánh Hòa; Lạch Huyện ở Hải Phòng, Nhà gia và đường bằng T2 ở Nội Bài... tất cả đều trong tình trạng chậm trễ.

Thực tế đó khiến cho hạ tầng giao thông vốn đã yếu kém càng thể hiện một bộ mặt bất cập, không đáp ứng được sự phát triển kinh tế, Yếu điểm hạ tầng đã được gọi tên hàng chục năm nay, đã được đầu tư rất nhiều tiền nhưng chậm vẫn hoàn chậm và tắc vẫn tắc. Hạ tầng giao thông đang trở thành nỗi ám ảnh lớn đối với các nhà đầu tư. Và nỗi ám ảnh đó có thể sẽ lớn dần khi sực cải thiện vẫn còn chậm chạp.

Còn đối với cải cách thủ tục hành chính, sau khi có được những đột phá trong giai đoạn trước với động thái thống kê và ông khai toàn bộ dữ liệu thủ tục hành chính quốc gia; thực hiện ra soát để đơn giản và cắt giảm nhiều thủ tục hành chính. Đáng kể nhất, một nghị quyết nêu rõ hàng trăm loại thủ tục cần cắt giảm đã ban hành đã thể hiện quyết tâm và cam kết của nhà nước với các DN.

Tuy nhiên, đó mới chỉ là những bước đầu mà đến nay vẫn chưa có một báo cáo bao nhiêu thủ tục chính thức được cắt giảm theo yêu cầu, tác động của nó đến đâu. Và điều quan trọng hơn, đó mới chỉ là những thành quả bước đầu và cần phải phát huy mạnh mẽ hơn để đáp ứng những mong đợi của người dân và DN. Tuy nhiên, cho đến nay, nhà đầu tư vẫn đang vấp phải rất nhiều khó khăn và rắc rối vì thủ tục hành chính.

Kinh tế Việt Nam khó khăn khi lạm phát tăng cao, đối mặt với bất ổn vĩ mô. Điều đó buộc Chính phủ phải thực thi những chính sách thắt chặt để ổn định và hướng tới phát triển trong dài hạn. Các chính sách thắt chặt đó đã ảnh hưởng lớn đến các DN và nhà đầu tư. Tuy nhiên, với ý thức và cam kết đồng lòng với Chính phủ, cộng đồng DN vẫn tiếp tục ủng hộ chính sách thắt chặt để ổn định vĩ mô, tái cơ cấu và phát triển bền vững.

Trong khó khăn, khi không thể tăng vốn, tăng đầu tư cho DN và nền kinh tế thì việc quan trọng và hữu hiệu nhất để hỗ trợ các DN là phải cải cách mạnh mẽ môi trường đầu tư trên các lĩnh vực: hạ tầng, năng lượng, thủ tục hành chính, nhân lực... để giảm chi phí, gia tăng cơ hội và hiệu quả cho DN.

Hơn thế, đây chính là những biện pháp quan trọng, căn cơ và dài hạn nhất để gia tăng năng lực cạnh tranh cho DN, cho nền kinh tế trong cuộc đua tranh phát triển với các nước trong khu vực và thế giới.


Tuy nhiên, với thực tế cải thiện chậm chạp, thiếu những đột phá trong khi trên cùng đường đua, các nước khác lại có những bước đi mạnh mẽ để vượt lên, đẩy chúng ta tụt lại phía sau. Và điều lo ngại là khi tốc độ cải cách của nhiều nước liên tục được thúc đẩy và gia tăng thì tốc độ chậm đều có thể sẽ khiến Việt Nam gạt khỏi danh sách lựa chọn của các DN và nhà đầu tư lớn, suy giảm tính hấp dẫn của một thị trường tiềm năng. Và điều đó chẳng khác nào là chúng ta đang tự loại mình khỏi đường đua.

18:16 | Posted in | Read More »

CẦN CÁI NHÌN TOÀN DIỆN VỀ LỊCH SỬ VIỆT NAM

Phỏng vấn GS. VS. Phan Huy Lê
Nguồn: Báo Thể thao và Văn hóa, đăng ngày 19/10/2011, truy cập tại đây

(TT&VH) - Như TT&VH số ra ngày 11/10 đã đưa tin, nhằm góp phần chấn hưng môn Sử và góp phần phần khuyến khích, đào tạo nhân tài sử học cho đất nước và thúc đẩy sự phát triển của nền sử học Việt Nam, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam (KHLS VN) đã thành lập Quỹ Hỗ trợ Phát triển Sử học Việt Nam.

Nhưng để nền sử học phát triển, theo GS Phan Huy Lê, ngoài việc chấn hưng môn Sử, cần phải truyền bá kiến thức lịch sử đến nhân dân bằng nhiều cách khác nhau trên cơ sở các kết quả nghiên cứu hiện đại, khách quan và khoa học.

Nhận thức về tổng quát lịch sử cũng có sự thay đổi

Từ ngày thành lập cách đây 45 năm, tôn chỉ và mục đích của Hội KHLS VN thì có nhiều, nhưng theo GS-Viện sĩ Phan Huy Lê có 3 chức năng quan trọng bậc nhất. Một là, phải thúc đẩy sự phát triển của nền sử học hiện đại Việt Nam, trong đó bao gồm cả lý luận, phương pháp nghiên cứu và thúc đẩy các công trình nghiên cứu cụ thể và khuyến khích các công trình cần thiết. Thứ hai là phải góp phần mở rộng việc truyền bá kiến thức sử học và giáo dục truyền thống lịch sử, truyền thống văn hóa cho nhân dân. Thứ ba là chức năng tư vấn và phản biện xã hội. 
 
Về việc truyền bá kiến thức sử học, Hội KHLS VN làm theo hai hình thức. Một là gián tiếp qua các công trình, góp phần tạo nên cơ sở kiến thức để cho các cơ quan truyền thông, báo chí và các cơ quan trực thuộc chức năng này tận dụng. Nếu truyền thông không tham gia vào việc truyền bá lịch sử thì bản thân lịch sử sẽ vẫn “vận động không ngừng”, bởi sử học nó liên tục đổi mới, đổi mới bất ngờ ở rất nhiều lĩnh vực. 


Giáo sư Phan Huy Lê


Những nhận thức về tổng quát lịch sử cũng có sự thay đổi rất căn bản, chưa từng có. GS Phan Huy Lê dẫn chứng: “Lịch sử Việt Nam cho đến thế kỷ 19 thường được nhận thức xuất phát từ thời tiền sử, sau đó là từ thời văn minh Đông Sơn với sự ra đời của hai vương quốc đầu tiên là Văn Lang và Âu Lạc. Sau đó từ miền Bắc vào miền Trung, miền Nam với quá trình di dân của người Việt vào trong đó. Tức là lịch sử miền Trung chỉ diễn ra từ thời Nguyễn Hoàng (1558 - 1613) giữa thế kỷ 16 rồi đẩy mạnh khai phá miền Nam Trung bộ. Sau đó, thế kỷ 17 di dân người Việt vào đồng bằng sông Cửu Long.

Quan điểm như vậy về phát triển lịch sử Việt Nam thì không sai nhưng nhận thức toàn bộ và toàn diện về lịch sử Việt Nam như vậy là phiến diện. Vì quan điểm như vậy có nghĩa là Nam Trung bộ và Nam Bộ chỉ mới bắt đầu vào lịch sử Việt Nam từ thế kỷ 16 cho đến thế kỷ 17. Nếu như thế, một câu hỏi lớn được đặt ra là trước đó như thế nào? Điều đó không chỉ tạo nên một nhận thức phiến diện mà còn là một khoảng mờ mịt, nguy hiểm trong việc nhận thức về độc lập, chủ quyền của đất nước.

Gần đây, phải trải qua một quá trình vận động tích cực thì nhận thức về lịch sử Việt Nam đã thay đổi về cơ bản. Lịch sử Việt Nam hiện nay được nhận thức xuất phát từ lãnh thổ Việt Nam hiện nay, bao gồm cả đất liền và hải đảo.
Cấp học bổng, 
trao giải thưởng sử học
Bắt đầu từ năm học 2011-2012, Quỹ Hỗ trợ Phát triển Sử học Việt Nam sẽ triển khai kế hoạch cấp học bổng cho các sinh viên đỗ thủ khoa chuyên ngành lịch sử ở các trường ĐH, CĐ trong cả nước, chuẩn bị điều kiện cần và đủ để trao giải thưởng cho các nghiên cứu sinh, học viên cao học bảo vệ luận án đạt loại xuất sắc chuyên ngành lịch sử năm học 2011-2012 và các năm tiếp theo. Quỹ sẽ thành lập Hội đồng để xem xét và trao giải thưởng cho các công trình nghiên cứu lịch sử có giá trị cao vào năm 2015.

Ngược về quá khứ, tất cả những cái gì diễn ra trên không gian lãnh thổ này đều thuộc chủ quyền của Việt Nam, đều thuộc về lịch sử và văn hóa Việt Nam. Như vậy, Nam Trung bộ và Nam bộ không chỉ bắt đầu vào lịch sử Việt Nam từ thế kỷ 16-17 mà phải ngược lên thời tiền sử. Điều đó cũng có nghĩa là trong thời kỳ cổ đại, trên lãnh thổ Việt Nam có 3 trung tâm văn hóa lớn: Văn hóa Đông Sơn (với Nhà nước Văn Lang, Âu Lạc) ở phía Bắc, văn hóa Sa Huỳnh và nước Lâm Ấp (Chăm Pa cổ) ở miền Trung và văn hóa Óc Eo (Vương quốc Phù Nam) ở Nam bộ. Đó chính là ba bộ phận tạo nên lịch sử cổ đại Việt Nam và cũng là ba dòng chảy để góp phần tạo nên cái hợp lực của lịch sử và văn hóa Việt Nam”.

GS Phan Huy Lê nhấn mạnh: “Đó là một nhận thức làm tôi rất mừng vì nó càng ngày càng được phổ biến. Tuy nhiên cũng cần phải nói rằng, SGK cũng mới chỉ đưa phần lịch sử Chăm Pa vào, còn  lịch sử Óc Eo, Phù Nam chỉ mới bổ sung chứ chưa đưa vào. Tất nhiên, cần phải có thời gian vì để thay đổi nhận thức lịch sử không hề đơn giản”.

Cập nhật… lịch sử

Với việc phổ biến kiến thức lịch sử trực tiếp, Hội KHLS VN cũng làm được một phần lớn mà cụ thể là tạp chí Xưa và Nay đã làm tốt về việc cập nhật những hiểu biết mới nhất về lịch sử Việt Nam. Các hội lịch sử địa phương thì việc phổ biến kiến thức lịch sử họ vẫn làm thường xuyên, bằng việc liên tục ra các tập sách về lịch sử, hoặc tham gia biên soạn trực tiếp những cuốn địa chí, lịch sử địa phương. 
 
Chẳng hạn Hà Nội đã trực tiếp xây dựng phần lịch sử văn hóa Hà Nội để đưa vào chương trình phổ thông. Một số nhà sử học Việt Nam còn là tác giả của những tiểu thuyết lịch sử, truyện lịch sử và điều làm GS Phan Huy Lê thích thú nhất trong việc truyền bá kiến thức lịch sử đến nhân dân chính là những bộ tranh lịch sử. Tất nhiên chưa phải là thành công lắm, nhưng ít nhất là đã có được cái hình thức mang tính hấp dẫn đối với tuổi trẻ và với từng lứa tuổi một. 
 
GS Phan Huy Lê nhấn mạnh: “Nhân dân ta rất yêu mến lịch sử, rất tự hào về lịch sử dân tộc, của đất nước mình. Nhưng hiểu biết một cách khoa học về lịch sử văn hóa Việt Nam phải không ngừng nâng cao. Nâng cao trên cơ sở các kết quả nghiên cứu hiện đại. Hiện nay, nhiều người không phân biệt rõ ràng giữa khoa học lịch sử với các thần thoại, truyền thuyết. Tôi lưu ý là hai cái này liên quan với nhau nhưng không phải là một. Đã nói đến lịch sử là phải nói đến cái gì đó khách quan, có cơ sở khoa học. Còn thần thoại và truyền thuyết nó thuộc về lĩnh vực văn học dân gian, có tính hư cấu và không ngừng lưu truyền trong nhân dân, được bổ sung qua đời này, đời khác. Hai lĩnh vực đó trong nhân dân có quan hệ mật thiết với nhau nhưng nếu xem chúng là một thì thật sai lầm, đưa đến những nhận thức hỗn loạn về phương diện khoa học lịch sử”. 


Sẽ thành lập NXB về sử học 
Ngày 22/10 tới, trong khuôn khổ kỷ niệm 45 năm thành lập Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, ngoài chương trình nghệ thuật đặc biệt Sóng vọng biển Đông, Hội sẽ tổ chức Triển lãm ảnh về biển, đảo Việt Nam. Sau đó 1 ngày (23/10), nhân kỷ niệm 50 năm Ngày mở đường Hồ Chí Minh trên biển (23/10/1961 - 23/10/2011), Hội cũng sẽ trao tặng Quân chủng Hải quân Việt Nam một chiếc trống đồng. Ngoài ra, nhà sử học Dương Trung Quốc còn cho biết, Hội đang xin ý kiến Thủ tướng về việc thành lập một NXB chuyên về lịch sử trong thời gian tới.

Huy Thông (ghi)

04:28 | Posted in , | Read More »

THỦ TƯỚNG ĐỨC THĂM VIỆT NAM

(Ảnh: Bà Merkel tự lấy suất ăn khi thăm một đơn vị quân đội Đức)
I. BÁO CHÍ ĐỨC


Trong bài "Thủ tướng Đức Merkel thăm Việt Nam và Mông Cổ" đăng ngày 9/10/2011, báo Focus đã đưa tin:
 

Bà Merkel sẽ bắt đầu chuyến công du từ hôm thứ hai. Vào thứ ba, bà ở Hà nội, thứ tư ở thành phố Hồ Chí Minh và ngày cuối cùng của chuyến đi bà tới Ulan Bator (Mông Cổ). 

Cuối tuần vừa qua bà Merkel đã phát biểu trên truyền hình rằng dù muộn nhưng cuối cùng thì bà cũng thực hiện chuyến đi này. Ban đầu, bà đã lên kế hoạch cho chuyến công du đến Việt Nam vào cuối tháng 6 sau chuyến thăm Ấn Độ và Singapor. Tuy nhiên vì lý do công vụ chuyến thăm này đã phải hoãn lại.

Bà Merkel nhấn mạnh: "Việt Nam đạt được sự tăng trưởng mạnh về kinh tế và thực thi chính sách kinh tế mở. Tuy nhiên cùng với đó Việt Nam cũng còn phải cải thiện tương xứng vấn đề quyền con người". 

 Nguồn nguyên bản Tiếng Đức:

Bundeskanzlerin Merkel besucht Vietnam und die Mongolei

Quelle: Focus.de, 9.10.2011
http://www.focus.de/politik/weitere-meldungen/rohstoffabkommen-bundeskanzlerin-merkel-besucht-vietnam-und-die-mongolei_aid_672904.html

Bundeskanzlerin Angela Merkel (CDU) bricht am Montag zu einer viertägigen Reise nach Vietnam und in die Mongolei auf. Wie es aus Regierungskreisen hieß, könnte es während der Reise in die Mongolei zur Unterzeichnung eines Rohstoffabkommens kommen. Der Mongolei bescheinigte die CDU-Vorsitzende vorab weitreichende Entwicklungen.

Bundeskanzlerin Angela Merkel bricht am Montag zu einer viertägigen Reise nach Vietnam und in die Mongolei auf. Im Mittelpunkt stehen neben politischen Gesprächen vor allem wirtschaftliche Aspekte. In der Mongolei, das über die begehrten Seltenen Erden verfügt, könnte es zur Unterzeichnung eines Rohstoffabkommens kommen, wie es aus Regierungskreisen hieß. Merkel wird von einer Wirtschaftsdelegation begleitet. Es ist ihre erste Reise nach Vietnam, die Mongolei wurde noch nie von einem deutschen Kanzler besucht.

Merkel reist am Montag aus Berlin ab. Am Dienstag ist sie in Hanoi, am Mittwoch in Ho Chi Minh-Stadt und am Donnerstag, dem letzten Tag der Reise, in Ulan Bator zu Gast.

„Es wird langsam Zeit, dass ich einmal Vietnam besuche“, sagte Merkel am Wochenende in ihrer Video-Botschaft. Die Kanzlerin hatte ursprünglich geplant, Vietnam Ende Juni im Rahmen ihrer Reise nach Indien und Singapur zu besuchen. Der Besuch war aus Termingründen aber verschoben worden.

Vietnam mache eine starke Wandlung durch und öffne sich wirtschaftlich sehr weit, sagte Merkel. Damit müsse aber auch die „bessere Einhaltungen von Menschenrechten“ verbunden sein.

Rohstoffe in der Mongolei

Der Mongolei bescheinigte die CDU-Vorsitzende weitreichende Entwicklungen. Sie haben Präsident Tsakhilganiin Elbegdorj mehrfach getroffen und sie sei „sehr beeindruckt von dem Demokratisierungsprozess, den die Mongolei durchgemacht hat“.

Sie werde ihren Besuch aber auch dazu nutzen, „um zu sagen: Wir möchten, dass alle Menschen in der Mongolei auch am Wohlstand teilhaben“, sagte Merkel mit Blick auf die reichen Rohstoffvorkommen in dem Land – neben Gold und Kupfer vor allem die Metalle der Seltenen Erden.

Aus Regierungskreisen verlautete dazu, dass die Chancen zur Unterzeichnung eines Rohstoffabkommens sehr gut stünden. Merkel sprach von einer „Win-Win-Situation, also Gewinn für beide Seiten, indem wir wissenschaftlich-technisch zusammenarbeiten und auf der anderen Seite eben auch im Bereich der Rohstoffe“.

Seltene Erden werde immer teurer

Derweil belasten die stark gestiegenen Preise für Seltene Erden einer Studie zufolge die Profitabilität der Unternehmen oder gefährden gar deren Existenz. Das Marktvolumen werde durch die steigenden Preise in diesem Jahr voraussichtlich auf 27 Milliarden Euro ansteigen, nachdem es vor drei Jahren nur 2,4 Milliarden Euro betragen habe, heißt es in der Studie der Firma Roland Berger, die am Sonntag veröffentlicht wurde.

Grund für die Preissteigerung ist demnach neben einer erhöhten Nachfrage der Industrie die Monopolstellung Chinas. Betroffen seien unter anderem die Hersteller von Hybrid-Autos oder Hersteller von Windturbinen. Darüber hinaus werden die Seltenen Erden für Katalysatoren, Metalllegierungen und Batterien oder in der Lampenherstellung benötigt.

Zu den insgesamt 17 Elementen der Seltenen Erden zählen neben Scandium, Yttrium und Lanthan auch die 14 auf das Lanthan folgenden Metalle, die sogenannten Lanthanoide. Einige dieser Metalle kommen aber hundertmal häufiger vor als Gold, insofern ist die Bezeichnung „selten“ etwas irreführend.

------------------------
Báo "Mitteldeutsche Zeitung" đưa tin:

Sáng ngày thứ ba 11.10.2011, bà thủ tướng Angela Merkel sẽ đến Việt Nam. 

Giới thiệu về Việt Nam, tờ báo này cũng đưa tin, Việt Nam là nước đông dân và có nhiều tiềm năng ở khu vực Đông Nam châu Á. Trong vòng hai thập kỷ trở lại đây, Việt nam đã có sự thay đổi lớn về kinh tế. Tuy nhiên, hiện tại nền kinh tế này cũng đang gặp nhiều bất ổn và tìm kiếm nhà đầu tư nước ngoài. 

Cùng đi với bà Merkel lần này có đại diện của 15 doanh nghiệp, đây là những doanh nghiệp muốn đầu tư vào khu vực châu Thổ sông Hồng và sông Mekong hoặc trao đổi thương phẩm.

Căn cứ vào những bằng chứng khảo sát và đánh giá của Jörg Bergstermann và văn phòng quĩ Friedrich Ebert tại Hà nội, bài báo cũng thông tin về những hạn chế, yếu kém của Việt Nam như: Việt Nam hiện là nước có mức lạm phát cao nhất Châu Á (21%), tỷ lệ nợ mới là 6%, khoảng cách giàu nghèo lớn, nhiều người có mức thu nhập rất thấp, tốc độ đô thị hóa nhanh cũng đã lộ rõ sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn, tình hình chính trị chậm được cải thiện ...
------------------------------
 Nguồn nguyên bản Tiếng Đức:

Reise in ein gespaltenes Land 


Quelle: Mitteldeutsche Zeitung, 9.10.2011
http://www.mz-web.de/servlet/ContentServer?pagename=ksta/page&atype=ksArtikel&aid=1315819408582

BERLIN/MZ. In der Nacht von Montag zu Dienstag bricht Bundeskanzlerin Angela Merkel zu einem Besuch in Vietnam auf. Das südostasiatische Land mit 87 Millionen Einwohnern entwickelte sich in den letzten zwei Jahrzehnten wirtschaftlich rasant. Derzeit steckt es in einer Krise und sucht händeringend ausländische Investoren. Die bringt Merkel mit: Mit ihr reisen 15 mittelständige Unternehmen, die gern zwischen Rotem Fluss und Mekong investieren oder ihre Produkte verkaufen wollen.
Seit 1992 hatte Vietnam jährliche Wirtschaftswachstumsraten zwischen sechs und elf Prozent. Bei fast allen Menschen kam etwas vom Aufschwung an. Doch die Investitionen wurden überwiegend nicht nachhaltig im Immobiliensektor getätigt. Die Immobilienpreise sind bedingt durch Spekulationen so hoch, dass sich Geringverdiener in Großstädten keine Wohnungen leisten können. Vietnam hat mit 21 Prozent die höchste Inflationsrate Asiens. Die Neuverschuldung liegt bei sechs Prozent. Zum Vergleich: Die Höchstgrenze laut Maastrichtkriterien für die Eurozone beträgt drei Prozent. 
"Die Unterschiede zwischen Arm und Reich nehmen rasant zu", sagt Jörg Bergstermann, der bis August das Büro der Friedrich-Ebert-Stiftung in Hanoi leitete. Ein Hochschulabsolvent in Hanoi verdient nach wenigen Berufsjahren über 1 000 Euro. Für ungelernte Arbeiter Stadt liegt der Mindestlohn bei 68 Euro. Staatliche Sozialhilfe gibt es in dem sozialistischen Land nicht. Wer vom Mindestlohn überleben will, ist auf seine Familie angewiesen oder muss in Massenschlafsälen hausen. 
Noch ist die Stimmung in Vietnams Städten optimistisch. Das liegt an dem jahrelangen riesigem Wirtschaftswachstum. In ländlichen Regionen sieht es anders aus: Einfache Holzhütten sind nicht selten. Die Alternative sehen für viele Menschen auf dem Land eher in der Auswanderung als in Veränderungen des derzeitigen Einparteiensystem. Eine organisierte Opposition gibt es nicht.

Merkel wird in Hanoi auf einem deutsch-vietnamesischen Wirtschaftsforum eine Rede halten und sich mit Politikern ebenso treffen wie mit Vertretern der Zivilgesellschaft und von Religionsgemeinschaften. 

----------------------------------


II. BÁO CHÍ VIỆT NAM

Báo chí Đức 
nói về chuyến thăm VN của bà Merkel

Nguồn: Báo Đất Việt, ngày 10/10/2011, truy cập tại đây .
Cập nhật lúc :9:01 AM, 10/10/2011

Ngày 10/10, Thủ tướng Đức Angela Merkel lên đường đi thăm Việt Nam và Mông Cổ. Nhân dịp này, tạp chí Châu Âu trực tuyến dẫn tin của hãng DPA cho biết Việt Nam là một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất ở Đông Nam Á.
"Sự kỳ diệu kinh tế" của Việt Nam bắt đầu năm 1986, khi đất nước này bắt đầu mở cửa cho những cải cách kinh tế thị trường. Năm 2010, Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam tăng gần 7%. Những sản phẩm xuất khẩu quan trọng của Việt Nam là dầu mỏ, gạo, cà phê, hàng dệt may, giày và cá.

Trong năm qua, Việt Nam xuất khẩu sang Đức lượng hàng hóa trị giá 2,94 tỷ euro (tăng 28,4%) trong khi Đức xuất khẩu sang Việt Nam khối lượng hàng hóa trị giá 1,48 tỷ euro, trong đó chủ yếu là máy móc, xe cơ giới và sản phẩm hóa học. Trong Liên minh châu Âu (EU), Đức là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam.

Trong chuyến thăm bốn ngày của Thủ tướng Merkel tới Việt Nam và Mông Cổ, trọng tâm các cuộc thảo luận là các vấn đề kinh tế bên cạnh các cuộc hội đàm chính trị. Đây là chuyến thăm đầu tiên của Thủ tướng Merkel đến Việt Nam và là chuyến thăm đầu tiên của một thủ tướng Đức tới Mông Cổ từ trước tới nay. 
Theo TTXVN
----------------------------

Việt - Đức thiết lập quan hệ đối tác chiến lược

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Angela Merkel hôm nay cùng ký Tuyên bố chung Hà Nội, nhất trí nâng tầm quan hệ hai nước lên đối tác chiến lược. Trong 5 lĩnh vực hợp tác then chốt có chính trị chiến lược; thương mại đầu tư.
> 'Người phụ nữ quyền lực nhất thế giới' đến Hà Nội/ Tàu điện ngầm ở Đức

Bà Merkel tới Hà Nội trong chặng dừng chân đầu tiên của chuyến công du châu Á. Sau lễ đón chính thức, Thủ tướng Đức hội đàm với Thủ tướng Việt Nam về các lĩnh vực hợp tác chung.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Merkel sau cuộc thảo luận. Ảnh: AFP
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Merkel sau cuộc thảo luận. Ảnh: AFP
Hai thủ tướng và quan chức cấp cao hai nước đã cùng ký nhiều văn kiện hợp tác quan trọng. Trong đó, đáng chú ý nhất là Tuyên bố chung Hà Nội, với nội dung nhất trí thiết lập quan hệ đối tác chiến lược, tăng cường hợp tác chặt chẽ hơn nữa trong thời gian tới. 

"Việt Nam và Đức nhất trí thiết lập quan hệ đối tác chiến lược, tăng cường hợp tác chặt chẽ trong thời gian tới, đặc biệt là trong những lĩnh vực then chốt", tuyên bố chung có đoạn.

5 lĩnh vực hợp tác then chốt được nêu rõ trong Tuyên bố chung Hà Nội gồm có: hợp tác chính trị chiến lược; thương mại và đầu tư; tư pháp và pháp luật; phát triển và bảo vệ môi trường; giáo dục, khoa học, công nghệ, văn hóa, truyền thông và xã hội.

Các nội dung này của Tuyên bố chung Hà Nội đã được hai bên đàm phán trong một năm qua, với 8 vòng đàm phán khác nhau, nhằm hướng tới mục tiêu cùng phát triển, đôi bên cùng có lợi.
Kế hoạch hành động chiến lược cụ thể của 5 lĩnh vực hợp tác nói trên gồm có một số điểm đáng chú ý như: dự án Ngôi nhà Đức tại thành phố Hồ Chí Minh, xây dựng tuyến tàu điện ngầm số 2 tại thành phố Hồ Chí Minh, dự án Ngôi nhà Việt tại Berlin, tiếp tục đối thoại Việt – Đức về nhà nước pháp quyền, các chương trình xử lý nước thải và kinh tế chất thải tại Việt Nam, phát triển đại học Việt – Đức thành một cơ sở nghiên cứu hàng đầu, mở trường dạy nghề bậc cao tại Việt Nam.
Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Đức Angela Merkel duyệt đội danh dự trong lễ đón bà tại Hà Nội. Ảnh: AFP
Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Đức Angela Merkel duyệt đội danh dự trong lễ đón bà tại Hà Nội. Ảnh: AFP

Trong cuộc họp báo chung, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết lãnh đạo hai nước đã có cuộc hội đàm trên tinh thần xây dựng, tin cậy và hiểu biết lẫn nhau, thông báo cho nhau tình hình của hai bên, thảo luận và đi tới thống nhất về Tuyên bố chung Hà Nội. Hai thủ tướng cũng trao đổi về những biện pháp để thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ hợp tác chiến lược, cùng có lợi.

Tuy nhiên, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng kết quả hợp tác giữa hai nước vẫn còn chưa tương xứng với mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp lâu năm, vì thế cần phải thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa sự hợp tác trong tương lai.

Thủ tướng Đức Merkel cho biết bà đã trao đổi với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về hợp tác nhiều mặt, xoay quanh Tuyên bố chung.

"Việt Nam đã qua một chặng đường phát triển rất ấn tượng", bà Merkel nói. "Tuy nhiên vấn đề đặt ra là, phát triển trong tương lai, làm sao phải tạo được nhiều công ăn việc làm, tạo được lao động có trình độ cao".

"Chúng tôi cũng trao đổi về dự án tuyến tàu điện ngầm số 2 tại TP HCM cũng như dự án cáp quang Bắc – Nam. Đó là những dự án mang tính chất như ngọn hải đăng toả sáng nhiều hơn các dự án khác".

Bà cho biết sẽ đến thăm nhà máy của công ty B. Braun ở gần Hà Nội, cũng như thảo luận về ý tưởng xây dựng một trường đào tạo nghề chất lượng cao ở TP HCM nhằm cung cấp nguồn nhân lực hiệu quả.

Đức hiện là đối tác thương mại trong EU lớn nhất của Việt Nam, với kim ngạch thương mại hai chiều tăng trưởng khoảng 15% mỗi năm, đạt trên 4,1 tỷ USD trong năm 2010, tức là bằng tổng kim ngạch hai chiều giữa Việt Nam và nhiều nước châu Âu khác cộng lại. Theo số liệu của Đức có tính cả sự trung chuyển qua nước thứ ba, kim ngạch song phương thậm chí lên tới 6 tỷ USD. Trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế thế giới, Đức cam kết 400 triệu USD tài trợ phát triển cho Việt Nam.

Thủ tướng Đức Merkel trong cuộc họp báo chung với chủ nhà Việt Nam. Ảnh: Nguyễn Hưng.
Thủ tướng Đức Merkel trong cuộc họp báo chung với chủ nhà Việt Nam. Ảnh: Nguyễn Hưng.

Cộng đồng người Việt Nam lao động và học tập tại Đức hiện có gần 100.000 người, theo số liệu của Văn phòng thống kê Liên bang Đức, và được nước sở tại đánh giá là một cộng đồng tích cực, có nhiều đóng góp cho sự phát triển chung của nước Đức. Ngoài ra, có một số lượng gần tương đương những người Việt Nam từng học tập hoặc làm việc ở Đức nay đã về nước. Đức hiện là nước tích cực nhất trong việc giúp Việt Nam đào tạo tiến sĩ, với khoảng 100 học bổng đào tạo mỗi năm. Những cộng đồng này chính là cầu nối quan trọng làm nên mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước trong suốt 36 năm qua, kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1975.

Phan Lê
 

20:40 | Posted in | Read More »

STEVE JOBS PHÁT BIỂU TẠI STANFORD

"...Nhưng cái chết là đích đến mà chúng ta đều phải tới. Không ai thoát được nó. Cái chết như là phát minh hay nhất của sự sống. Nó là tác nhân thay đổi cuộc sống. Nó loại bỏ sự cũ kỹ (người già) để mở đường cho cái mới (lớp trẻ). Các bạn chính là thế hệ trẻ, nhưng ngày nào đó sẽ già đi và rời bỏ cuộc sống. Xin lỗi vì đã nói thẳng nhưng điều đó là sự thật.

Thời gian của bạn không nhiều, đừng lãng phí bằng cách sống cuộc đời của người khác. Đừng nghe những lời giáo điều, vì đó là suy nghĩ của người khác. Đừng để những quan điểm ồn ào lấn át tiếng nói bên trong bạn. Chúng biết bạn muốn gì. Mọi thứ khác chỉ là thứ yếu..." - Steve Jobs



06:41 | Posted in | Read More »